Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 5 (CIENCO 5) - Kỳ I: Bất cập trong Báo cáo tài chính hợp nhất

Hoạt động của Ngành - Ngày đăng : 10:20, 25/02/2016

(BKTO) - Qua kiểm toán, KTNN kết luận Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 củaCIENCO 5 lập ngày 31/3/2013 chưa phản ánh đầy đủ, trung thực tình hình tàichính của đơn vị tại thời điểm lập báo cáo, CIENCO 5 báo cáo lợi nhuận trướcthuế lãi 39.262 triệu đồng, nhưng KTNN đã điều chỉnh và xác nhận CIENCO 5 lỗ39.466 triệu đồng; tăng tài sản, nguồn vốn 534.667 triệu đồng; tăng nghĩa vụ vớiNSNN 16.558 triệu đồng.



Trong năm 2012, có 3 công ty trực thuộc CIENCO 5 kinh doanh thua lỗ kéo dài.Ảnh: TS

KTNN đánh giá năm 2012, Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 5 và các đơn vị được kiểm toán đã thực hiện mở sổ theo dõi quản lý vốn bằng tiền theo quy định. Cuối năm, các đơn vị đã tiến hành kiểm kê tồn quỹ tiền mặt, xác nhận số dư tiền gửi tại các ngân hàng, đối chiếu trùng khớp với số dư trên sổ kế toán cuối ngày 31/12/2012. Nợ phải thu khách hàng cũng được các đơn vị theo dõi chi tiết từng đối tượng nợ và tiến hành đối chiếu theo quy định; mở sổ theo dõi tạm ứng và tài sản ngắn hạn tương đối rõ ràng. Công tác quản lý hàng tồn kho (chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dang dở) của các đơn vị cơ bản tuân thủ chế độ quy định. Trong công tác quản lý tài sản cố định, các đơn vị đã mở số theo dõi chi tiết tài sản, tình hình mua sắm, tăng, giảm tài sản, cuối năm thực hiện kiểm kê. Việc quản lý doanh thu, thu nhập tại các đơn vị được theo dõi riêng đối với từng công trình, dự án, từng hoạt động và xác định doanh thu theo Chuẩn mực kế toán mà Bộ Tài chính đã ban hành.

Tuy nhiên, còn có trường hợp đơn vị phản ánh doanh thu và kê khai thuế GTGT đầu ra chưa đầy đủ, kịp thời; phản ánh doanh thu kinh doanh bất động sản khi chưa đủ điều kiện; chưa xác định khoản lãi phải thu cho các đơn vị vay vốn; chưa hoàn nhập kịp thời để tăng thu nhập các khoản trích trước nhưng không còn phải trả từ nhiều năm. Việc quản lý chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh tại các đơn vị của Tổng công ty cũng còn một số tồn tại như: chi phí chưa đảm bảo nguyên tắc phù hợp với doanh thu theo Chuẩn mực kế toán dẫn đến một số công trình, dự án còn chi phí trích trước nhưng không còn phải trả chưa được hoàn nhập, một số công trình dự án còn chi phí sản xuất kinh doanh dở dang nhưng không còn doanh thu; chi phí kinh doanh trong kỳ các khoản chi không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; chưa phân tích rõ các khoản nợ để có căn cứ trích lập dự phòng đối với các khoản nợ phải thu khó đòi...

Kết quả kiểm toán nêu rõ, năm 2012, chỉ có 7/10 đơn vị được kiểm toán bảo toàn được vốn chủ sở hữu, còn 3/10 đơn vị kinh doanh thua lỗ kéo dài làm âm vốn chủ sở hữu: Công ty 508 lỗ lũy kết 43.058 triệu đồng, âm vốn chủ sở hữu 13.046 triệu đồng; Công ty 505 lỗ lũy kết 39.468 triệu đồng, âm vốn chủ sở hữu 27.033 triệu đồng; Công ty 529 lỗ lũy kế 16.422 triệu đồng, âm vốn chủ sở hữu 13.621 triệu đồng. Ngoài ra, còn có một số khoản nợ phải thu khó đòi đủ điều kiện lập dự phòng 17.879 triệu đồng, nợ quá hạn thanh toán 188.320 triệu đồng, nợ không có đối tượng 659 triệu đồng, chênh lệch nợ phải thu trong nội bộ Tổng công ty 24.636 triệu đồng. Mặc dù chi phí sản xuất kinh doanh dở dang được tính toán là 185.738 triệu đồng nhưng không còn ghi nhận doanh thu, đơn vị chưa cung cấp được hồ sơ tài liệu, chứng từ để xác định nội dung của các khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang mà đơn vị đang theo dõi, có khả năng mất vốn nhà nước.

Theo KTNN, tuy các đơn vị được kiểm toán đã xác định kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối kết quả sản xuất kinh doanh theo chế độ quy định, nhưng Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2012 của Tổng công ty cũng chưa đảm bảo tính chính xác, trung thực như KTNN đã điều chỉnh ở các chỉ tiêu doanh thu, giá vốn, thu nhập khác, chi phí khác làm giảm lợi nhuận trước thuế so với số báo cáo của Tổng công ty là 78.729 triệu đồng.

Cùng với việc xây dựng đơn giá tiền lương chậm so với quy định, công ty mẹ đã không gửi các báo cáo về quỹ tiền lương cho cục Thuế nơi Tổng công ty đóng trụ sở để xác định thu nhập chịu thuế theo quy định; có đơn vị đã xây dựng đơn giá tiền lương trên doanh thu chung cho khối sản xuất kinh doanh bao gồm các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, thương mại, sản xuất, thi công công trình không phù hợp dẫn đến không thể quyết toán Quỹ tiền lương thực hiện theo đơn giá đã xây dựng; cuối năm không thực hiện xác định Quỹ tiền lương, không thực hiện tạm trích 70% quỹ tiền lương của viên chức quản lý để tạm ứng chi lương trong năm và 30% còn lại chỉ được quyết toán và chi trả vào cuối năm.

Trong chấp hành nghĩa vụ với NSNN, các đơn vị đã nộp vào NSNN theo số đã kê khai với cơ quan thuế đúng thời hạn, nhưng trên hồ sơ khai thuế Giá trị gia tăng chưa ghi rõ thời hạn thanh toán đối với trường hợp hóa đơn hàng hóa dịch vụ mua vào có giá trị trên 20 triệu đồng; một số hóa đơn mua vào đã quá thời hạn thanh toán theo hợp đồng mà chưa thanh toán, chưa điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là không đúng quy định tại Thông tư 06/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính; còn kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào của những hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào không phục vụ cho sản xuất kinh doanh; chưa kê khai đầy đủ, kịp thời thuế GTGT đầu ra đối với những công trình, dự án đã được nghiệm thu chấp nhận thanh toán… Về thuế thu nhập DN (TNDN), các đơn vị được kiểm toán đã chấp hành quyết toán thuế năm theo quy định, tuy nhiên quyết toán thuế TNDN năm 2012 chưa phản ánh đúng, đủ thu nhập chịu thuế, chưa loại trừ các khoản không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

(Kỳ sau đăng tiếp)

QUỲNH ANH