5 trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 01/01/2026
Xã hội - Ngày đăng : 11:15, 16/01/2026

Chính sách mới cũng quy định rõ trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng thì phần chưa giải quyết hưởng không được bảo lưu.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đã làm rõ và đầy đủ hơn các trường hợp được tính là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Theo đó, ngoài các trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ở tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước đó, nghỉ ốm đau, thai sản, nghỉ không lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày trở lên trong tháng, Nghị định 374/2025/NĐ-CP bổ sung, nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quy định này nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động.
Đáng chú ý, các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định cụ thể, chi tiết hơn.
Theo Điều 8 Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp sau:
(1) Đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng còn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa được giải quyết hưởng, với điều kiện tổng thời gian đã đóng trên 36 tháng đến đủ 144 tháng; phần thời gian chưa giải quyết hưởng này được bảo lưu để tính cho lần hưởng tiếp theo. Trường hợp đã đóng trên 144 tháng thì phần chưa giải quyết hưởng không được bảo lưu.
(2) Bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Khi đó, toàn bộ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng được bảo lưu. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
(3) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng thuộc các trường hợp pháp luật cho phép bảo lưu. Phần thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có việc làm thuộc trường hợp giao kết hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc đã thực hiện thông báo với tổ chức dịch vụ việc làm công theo quy định, nhưng chưa có bản sao hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc, thì phải có cam kết thể hiện nội dung về ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết có hiệu lực, lý do chưa cung cấp được bản sao hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Đồng thời, nộp bổ sung bản sao hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Trường hợp gửi qua dịch vụ bưu chính, thì tính theo ngày đi ghi trên dấu bưu chính.
(4) Không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản; số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền được bảo lưu.
(5) Được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp. Nghị định quy định cách tính cụ thể để xác định số tháng được bảo lưu, đặc biệt trong trường hợp lần hưởng sau cùng có thời gian đóng dưới 36 tháng.
Nghị định cũng quy định thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần còn được bảo lưu.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội căn cứ các quyết định liên quan đến việc hưởng trợ cấp thất nghiệp và việc xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để thực hiện việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP cũng khẳng định nguyên tắc chung: Cứ mỗi 1 tháng người lao động đã hưởng trợ cấp thất nghiệp thì tương ứng với 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần còn lại được bảo lưu.
So với Nghị định 28/2015/NĐ-CP trước đây, quy định mới có nhiều điểm tiến bộ. Trước kia, pháp luật không đặt ra giới hạn tối đa về thời gian được bảo lưu, không liệt kê đầy đủ từng tình huống cụ thể và cũng chưa có công thức rõ ràng để tính trong trường hợp phát sinh thời gian đóng bổ sung. Điều này khiến việc áp dụng giữa các địa phương đôi khi chưa thống nhất, người lao động cũng khó nắm bắt chính xác quyền lợi của mình.
Việc bổ sung mốc 144 tháng và chuẩn hóa toàn bộ các trường hợp được bảo lưu theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP được đánh giá là cần thiết, phù hợp với thực tiễn. Quy định mới vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, vừa tăng tính minh bạch, dễ hiểu trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước, hạn chế vướng mắc, khiếu nại phát sinh.