Cung khớp cầu - phát triển thị trường lao động bền vững, chất lượng cao

Xã hội - Ngày đăng : 15:42, 27/01/2026

(BKTO) - Quản lý và điều tiết thị trường lao động luôn là một thách thức lớn, nhất là tại những trung tâm kinh tế trọng điểm như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Trong khi khi lực lượng lao động dồi dào, nhu cầu tuyển dụng tăng, sự chênh lệch cung - cầu lao động vẫn tồn tại, đặc biệt ở các nhóm kỹ năng cao và ngành có tốc độ chuyển đổi nhanh.
2.jpg
Cần chính sách đồng bộ, dữ liệu thị trường lao động minh bạch, liên kết mạnh mẽ để đảm bảo đào tạo nghề và tuyển dụng kịp thời theo nhu cầu thực.

Chất lượng và sự phù hợp giữa lao động - việc làm

Theo thống kê, tổng lực lượng lao động Việt Nam trong độ tuổi (từ 15 tuổi trở lên) đạt khoảng 53,5 triệu người, với 52,4 triệu người có việc làm trong năm 2025, tăng hơn 578 nghìn so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức tương đối thấp khoảng 2,22%, nhưng lao động không sử dụng hết tiềm năng vẫn ở mức gần 4%.

Tại TP. Hồ Chí Minh (bao gồm sau sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu) - điểm nóng của nhu cầu tuyển dụng lao động, nhưng cũng là nơi thể hiện rõ nhất sự chênh lệch cung cầu. Năm 2025, theo thống kê của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP. Hồ Chí Minh, tổng nhu cầu tuyển dụng hơn 313.680 vị trí, trong khi chỉ có 191.790 người đăng ký tìm việc, tức là cầu vượt cung lớn.

Một số ngành nhu cầu tuyển dụng cao cả lao động phổ thông lẫn kỹ năng kỹ thuật trung bình như thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, logistics, bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng. Trên thực tế, nhóm lao động phổ thông đang đối diện với tình trạng thiếu lao động lớn. Thống kê 10 tháng năm 2025 cho thấy, có hơn 140.000 lượt người tìm việc, nhưng số vị trí tuyển dụng hơn 250.000, tức cầu lớn hơn rất nhiều.

Bên cạnh đó, số lượng người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo dữ liệu Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh là 205.641 người, giảm 34.735 người (14,5%) so với năm 2024 (240.376 người), cho thấy việc làm đang ổn định hơn và doanh nghiệp tiếp tục tuyển dụng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế đô thị, gia tăng đầu tư FDI, các dự án logictics và dịch vụ kéo theo nhu cầu nhân lực lớn. Trong khi đó, ngân hàng lao động đang thiếu hụt ở nhóm kỹ năng trung bình và kỹ năng thực hành, dẫn tới doanh nghiệp khó tuyển đủ người dù tỷ lệ thất nghiệp toàn thành phố ở mức thấp.

Thị trường lao động Hà Nội cũng sôi động năng trong năm 2025 và bức tranh cung - cầu cân đối và ổn định hơn. Ứớc tính, đến hết năm 2025, Thành phố tạo việc làm mới cho 222.000 người lao động, đạt 131,36% kế hoạch giao trong năm. Năm 2025, Hà Nội có 71.941 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 4.804 người (6,3%) so với năm 2024 (76.745 người) và chiếm 8,8% so với cả nước

Nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội trong nhiều giai đoạn được báo cáo ở mức cao, với nhiều vị trí tuyển dụng. Đơn cử, tháng 2/2025: tổng khoảng 28.850 chỉ tiêu, với ngành dịch vụ và bán lẻ chiếm gần 59% nhu cầu. Từ tháng 7 đến cuối năm 2025, nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội được ước tính trên 50.000 vị trí việc làm, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh và phục hồi các ngành dịch vụ, thương mại, logistics.

Thị trường lao động Hà Nội phản ánh nhu cầu tăng cả ở lao động phổ thông và kỹ thuật cơ bản, cả lao động chuyên môn cao, trong đó các doanh nghiệp tìm kiếm vị trí đòi hỏi kỹ năng quản lý, kỹ thuật và chuyên môn. Sự biến động này cho thấy Hà Nội đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ hơn từ việc giải quyết việc làm số lượng sang tập trung nâng cao chất lượng lao động.

Để thị trường lao động phát triển bền vững và tăng trưởng chất lượng

Nguyên nhân của tình trạng chênh lệch cung - cầu là sự thiếu phù hợp giữa kỹ năng lao động hiện có và yêu cầu của doanh nghiệp. Mặc dù nhiều thành phố có lực lượng lao động dồi dào nhưng phần lớn lao động chưa có kỹ năng nghề phù hợp, đặc biệt trong các ngành như công nghệ, logistics, tự động hóa và dịch vụ chất lượng cao. TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội đều ghi nhận nhu cầu lớn cho lực lượng có trình độ qua đào tạo, từ trung cấp đến đại học, nhưng chưa đủ người đáp ứng. Điều này phần lớn đến từ việc chương trình đào tạo nghề và giáo dục đại học chưa gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp, và tốc độ cập nhật kỹ năng chậm hơn so với sự phát triển của thị trường lao động hiện đại.

Một rào cản phổ biến là thiếu một cơ chế thống nhất và thời gian thực để kết nối cung - cầu. Các sàn việc làm chưa khai thác hết dữ liệu lớn để ghép nối người lao động và nhà tuyển dụng một cách nhanh chóng. Các biến động về cơ chế sáp nhập hành chính, như việc hợp nhất các tỉnh tạo ra quy mô mới của thị trường lao động với sự pha trộn khác biệt về cung - cầu, dẫn tới khó khăn trong dữ liệu thống kê và điều phối nhu cầu trên vùng rộng hơn.

Để giảm thiểu tình trạng lệch cung - cầu và hướng tới thị trường lao động bền vững, các địa phương cần phối hợp với các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo để xây dựng chương trình đào tạo theo nhu cầu ngành nghề, đặc biệt trong nhóm kỹ năng kỹ thuật cao, công nghệ thông tin, tự động hóa và logistics. Điều này bao gồm: phát triển các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn theo yêu cầu doanh nghiệp; hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp để đào tạo ngay tại nơi làm việc; đẩy mạnh các chứng chỉ nghề và kỹ năng mềm để đáp ứng nhu cầu mới.

Xây dựng hệ thống dữ liệu thị trường lao động quốc gia thống nhất, cập nhật theo thời gian thực, hỗ trợ phân tích xu hướng tuyển dụng theo ngành nghề và vùng miền; kết nối tự động giữa hồ sơ người lao động và vị trí tuyển dụng; cung cấp dự báo nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và đào tạo tại chỗ của doanh nghiệp cần được tăng cường, đặc biệt cho những doanh nghiệp đầu tư vào ngành chiến lược như công nghệ cao, dịch vụ logistics, năng lượng tái tạo, và các ngành cần kỹ năng cao. Tại từng địa phương, cần xây dựng trung tâm kết nối cung - cầu và bản đồ nhu cầu lao động theo ngành nghề, cập nhật định kỳ để đảm bảo chính sách đào tạo nghề và tuyển dụng kịp thời theo nhu cầu thực.

Vai trò "trụ cột" của Luật Việc làm và bảo hiểm thất nghiệp

Theo Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm (Cục Việc làm, Bộ Nội vụ), tổng hợp kết quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2025 đến ngày 31/12/2025 cho thấy, tổng số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 2.173.817 lượt người; 816.995 người đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2024; 786.969 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm 2024; có 22.711 người được hỗ trợ học nghề.

Để giải quyết bài toán chênh lệch cung cầu lao động và thiếu hụt kỹ năng cần thiết, Luật Việc làm đóng vai trò là hành lang pháp lý quan trọng, trong đó, các chính sách về bảo hiểm thất nghiệp chuyển từ một công cụ "hỗ trợ thu nhập" thuần túy sang "chủ động ngăn ngừa thất nghiệp".

Theo đó, Luật Việc làm quy định các chế độ hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động. Đây là chìa khóa để giải quyết thực trạng lao động thiếu kỹ năng phù hợp, đặc biệt là trong các ngành mới nổi rất cần đào tạo và đào tạo liên tục như: công nghệ, logistics và tự động hóa.

Thông qua hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm tại các địa phương, người lao động đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ nhận trợ cấp mà còn được tiếp cận trực tiếp với các vị trí tuyển dụng và doanh nghiệp. Đối với người lao động, nhất là nhóm lao động phổ thông, bảo hiểm thất nghiệp đóng vai trò là nguồn lực tài chính và định hướng để họ tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm không chỉ là chiếc lưới an toàn cho người lao động lúc khó khăn, mà còn là đòn bẩy quan trọng để tái cấu trúc lực lượng lao động, chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng, góp phần xây dựng một thị trường lao động Việt Nam hiện đại và bền vững. Để bảo hiểm thất nghiệp thực sự trở thành công cụ thúc đẩy chất lượng lao động, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình thực thi bảo hiểm thất nghiệp thông qua các chính sách ưu đãi thuế khi họ tiếp nhận và đào tạo lại lao động từ nguồn bảo hiểm thất nghiệp.

Các chính sách đào tạo nghề cần có sự chuyển đổi từ đào tạo những gì sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của thị trường. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện bản đồ nhu cầu lao động và hệ thống thông tin bảo hiểm thất nghiệp cập nhật theo thời gian thực để dự báo chính xác các biến động.

Năm 2025 ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ trên thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt tại các đô thị trọng điểm. Tuy nhiên, thách thức chênh lệch cung - cầu, đặc biệt ở nhóm lao động có kỹ năng phù hợp với những ngành mới vẫn còn lớn. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi chính sách đồng bộ, dữ liệu thị trường lao động minh bạch, liên kết mạnh mẽ giữa cơ sở đào tạo - doanh nghiệp - chính quyền cùng với các mô hình công nghệ kết nối hiện đại. Chỉ bằng cách này, thị trường lao động Việt Nam mới thực sự phát triển bền vững và tăng trưởng chất lượng trong giai đoạn mới.

THÙY LÊ