Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Chính trị - Ngày đăng : 16:41, 25/02/2026

Ảnh: Như Ý
Khơi thông nguồn lực, nâng tầm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Quán triệt những nội dung mới, cốt lõi của Nghị quyết 79 tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị diễn ra sáng nay (25/02), Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, Nghị quyết đã xác định mục tiêu tổng quát nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm phát triển của đất nước.
Nghị quyết cũng xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cần đạt đối với sáu thành tố của kinh tế nhà nước, bao gồm: đất đai, tài nguyên; tài sản, kết cấu hạ tầng; ngân sách, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước; doanh nghiệp nhà nước; tổ chức tín dụng nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, về đất đai tài nguyên, quản lý, khai thác, huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Về tài sản kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, liên tỉnh, khu vực và thế giới.
Về ngân sách và dự trữ quốc gia, tỷ lệ huy động ngân sách đạt khoảng 18%; bội chi ngân sách khoảng 5%; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% tổng chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu có 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; có từ 1 đến 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; đặc biệt, 100% doanh nghiệp thực hiện quản trị hiện đại trên nền tảng số.
Về tổ chức tín dụng nhà nước, Nghị quyết yêu cầu ít nhất có ba ngân hàng thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản; có bốn ngân hàng tiên phong về công nghệ, quản trị, chủ đạo về quy mô, thị phần và điều tiết thị trường.
Về đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục xã hội hóa mạnh mẽ cung cấp các dịch vụ công; tiếp tục tinh gọn đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.
Tầm nhìn đến năm 2045 được Nghị quyết nêu cụ thể, hướng tới xây dựng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội; cùng với các khu vực kinh tế khác hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60% doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.
Đổi mới tư duy, hiện đại hóa quản trị, tạo động lực phát triển bền vững
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược, Nghị quyết 79 đề ra hệ thống nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, toàn diện, vừa mang tính tổng thể, vừa cụ thể theo từng lĩnh vực, từng thành tố của kinh tế nhà nước.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung. Trọng tâm là đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo, phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt.

Cùng với đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế; thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường kỷ luật kỷ cương, phù hợp với các cam kết quốc tế...
Tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia, khuyến khích hợp tác công tư trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất của Nhà nước gắn với trách nhiệm giải trình; giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp, giảm chi phí tuân thủ; áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia trong các cơ quan, tổ chức kinh tế nhà nước, đảm bảo thu nhập tương xứng, phù hợp với thị trường lao động. Có chính sách hiệu quả nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài...
Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi...
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng thời, chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, trùng lặp, kéo dài, không cần thiết; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trên nền tảng số, bảo đảm thống nhất với lộ trình kế hoạch chuyển đổi số tại các Bộ, cơ quan địa phương và doanh nghiệp...
Trên cơ sở 7 nhóm nhiệm vụ giải pháp chung, Nghị quyết đã đưa ra từng nhóm giải pháp cụ thể đối với các lĩnh vực: đất đai và tài nguyên; tài sản kết cấu hạ tầng; ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; doanh nghiệp nhà nước; các tổ chức tín dụng nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập.../.