Định vị khoa học công nghệ trong đổi mới mô hình tăng trưởng và quản trị Thủ đô

Pháp luật - Ngày đăng : 08:32, 26/03/2026

(BKTO) - TS. Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - nhấn mạnh: Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã “định vị” khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như một động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng quản trị đô thị của Thủ đô.
15-thay.jpg
TS. Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Ảnh: ST

Thưa ông, tại Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) vừa được Chính phủ gửi Quốc hội đã dành một chương quy định về phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Tôi cho rằng, việc Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) dành riêng một chương về phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lựa chọn “đúng thời điểm, đúng trọng tâm”. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Vì vậy, muốn Thủ đô thực sự “đi trước - mở đường”, Luật Thủ đô phải đặt nội dung này thành trụ cột thể chế, không dừng ở các quy định nguyên tắc hoặc khẩu hiệu khuyến khích chung.

Điểm đáng chú ý của chương này là đưa tư duy “giải bài toán lớn của đô thị” vào Luật. Dự thảo yêu cầu tích hợp KHCN và chuyển đổi số trong hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và phát triển các ngành, lĩnh vực. Đây là bước chuyển quan trọng từ “đầu tư theo đề tài” sang “đặt hàng theo vấn đề”, qua đó gắn kết các chủ thể trong hệ sinh thái viện - trường - doanh nghiệp - cơ quan quản lý cùng tham gia và cùng chịu trách nhiệm về kết quả đầu ra.

Một điểm đột phá là cơ chế “dám thử trong khuôn khổ” - ưu tiên thí điểm chính sách và thử nghiệm có kiểm soát; chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm trong hoạt động KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Về bản chất, đây là cơ chế học từ thực tiễn - thử trong phạm vi hẹp, có giám sát, có bảo vệ người tham gia, sau đó tổng kết để hoàn thiện thể chế.

Về công cụ thực thi, Dự thảo đã tiếp cận đúng các “điểm nghẽn” phổ biến như tài chính, mua sắm và dữ liệu. Các quy định về ngân sách linh hoạt theo đầu ra; cơ chế khoán chi; thủ tục mua sắm rút gọn cho nhiệm vụ KHCN; hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách; khuyến khích doanh nghiệp tăng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D)… tạo thành một “gói chính sách” tương đối đồng bộ để thúc đẩy thương mại hóa và mở rộng thị trường cho đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, việc trao thẩm quyền ban hành kiến trúc số, nền tảng số dùng chung; quy định danh mục dữ liệu mở, chia sẻ dữ liệu công - tư; yêu cầu kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia cho quản trị đô thị cho thấy Dự thảo đã nhìn nhận đúng vai trò của dữ liệu như một tài nguyên mới.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc dành một chương riêng mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phân quyền phải đi cùng chuẩn dữ liệu, liên thông hệ thống; đồng thời coi bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng là điều kiện tiên quyết để tạo dựng niềm tin xã hội.

15b-thay.jpg
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã đưa ra một bộ đòn bẩy để Thủ đô "đi trước - mở đường" trong phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: ST

Một trong những chính sách lớn của Dự thảo Luật là hướng đến đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào trong việc thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh, cũng như giải quyết các “điểm nghẽn” lớn của Thủ đô?

Ý nghĩa lớn nhất là chuyển từ “quản lý theo sự vụ” sang “điều hành theo dữ liệu và dự báo”. Trong một đô thị đặc biệt, nơi các điểm nghẽn như ùn tắc, ô nhiễm, ngập úng, vi phạm trật tự xây dựng - đất đai, an toàn thực phẩm có tính liên ngành cao, cách quản trị dựa trên báo cáo thủ công và phản ứng sau sự cố luôn chậm, chi phí lớn và khó tạo đột phá.

Dự thảo đã đặt nền tảng cho chính quyền số với các cấu phần tương đối đồng bộ - từ xây dựng nền hành chính số, công vụ số đến ban hành kiến trúc số đặc thù, nền tảng số dùng chung; thiết lập cơ chế quản trị dựa trên dữ liệu; quy định trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, dữ liệu mở và chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng; đồng thời bổ sung các yêu cầu về quản lý rủi ro, an toàn khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước.

Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng quốc tế - chuyển đổi khu vực công theo hướng “data-driven”, coi dữ liệu là đầu vào trọng yếu để nâng cao chất lượng quyết định, cải thiện dịch vụ công và tăng hiệu quả chi tiêu công.

Trong thực tiễn, quản trị số có thể tạo ra những thay đổi rõ rệt. Với ùn tắc giao thông, dữ liệu thời gian thực giúp tối ưu dòng xe và giảm chi phí xã hội. Với ô nhiễm môi trường, đặc biệt là không khí, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo cho phép chuyển từ “đo - báo” sang “dự báo - can thiệp”. Với các lĩnh vực như trật tự xây dựng - đất đai - an toàn thực phẩm, quản trị số giúp phát hiện sớm vi phạm, giảm không gian “xin - cho”, tăng minh bạch và hiệu lực hậu kiểm dựa trên dữ liệu.

Dự thảo cũng thiết kế các công cụ quản lý đủ mạnh - từ cơ chế xử lý vi phạm trật tự đô thị, an toàn cộng đồng đến quản lý an toàn thực phẩm theo hướng tập trung, thống nhất - tạo nền tảng pháp lý để đưa quản trị số vào thực tiễn.

Chuyển đổi số của Thủ đô không chỉ là “mua thêm phần mềm”, mà là tái thiết kế quy trình dựa trên dữ liệu, đặt người dân làm trung tâm và gắn với trách nhiệm giải trình để công nghệ thực sự tháo gỡ điểm nghẽn.

Với những mục tiêu và kỳ vọng đặt ra, theo ông, các quy định trong Dự thảo Luật đã đủ mạnh để đưa Thủ đô Hà Nội trở thành một trung tâm lớn về KHCN và đổi mới sáng tạo chưa, thưa ông?

Tôi cho rằng, các quy định trong Dự thảo đã mạnh hơn một bước so với cách tiếp cận truyền thống, đặc biệt ở việc nhấn mạnh thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro và gắn hỗ trợ với kết quả.

Dự thảo khẳng định nguyên tắc tích hợp KHCN và chuyển đổi số vào quản lý nhà nước; ưu tiên giải quyết các bài toán lớn; đồng thời thừa nhận một nguyên lý của đổi mới sáng tạo - muốn có đột phá phải chấp nhận rủi ro trong phạm vi kiểm soát.

Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), Dự thảo trao thẩm quyền cho Hội đồng nhân dân Thành phố quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự cho phép, điều chỉnh, chấm dứt thử nghiệm; cơ chế hướng dẫn, kiểm soát; bảo vệ người tham gia; hỗ trợ tài chính và khai thác dữ liệu, hạ tầng, tài sản công phục vụ thử nghiệm; thậm chí cho phép miễn áp dụng một số quy định pháp luật đối với dự án cụ thể theo đề nghị của Ủy ban nhân dân. Đây là một cấu trúc tương đối đầy đủ so với thông lệ quốc tế.

Về nguồn lực, Dự thảo đưa ra nhiều công cụ đáng chú ý - quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách theo nguyên tắc thị trường; cơ chế khoán chi; thủ tục rút gọn cho nhiệm vụ KHCN; ưu đãi thuế thu nhập cá nhân; cơ chế khấu trừ chi R&D ở mức cao; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ; phát triển khu công nghệ cao. Nếu triển khai nhất quán, các công cụ này có thể tháo gỡ ba nút thắt lớn - vốn mồi và vốn mạo hiểm; thị trường thử nghiệm; hạ tầng không gian đổi mới.

Tuy nhiên, để “đủ mạnh để về đích”, Dự thảo vẫn phụ thuộc vào ba điều kiện thực thi.

Thứ nhất - sandbox phải có giới hạn thời gian, ngưỡng rủi ro, cơ chế bồi thường và đánh giá độc lập, nhằm phân biệt đổi mới thực chất với thử nghiệm tùy tiện.

Thứ hai - cơ chế miễn trừ trách nhiệm phải gắn với quy trình minh bạch, công khai, không vụ lợi, đồng thời có cơ chế phòng, chống trục lợi, tham nhũng và kiểm toán để xử lý nghiêm sai phạm.

Thứ ba - dữ liệu càng mở càng phải bảo đảm an toàn; bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng phải được coi là nền tảng của niềm tin xã hội.

Xin trân trọng cảm ơn ông!./.

Quy định miễn trừ trách nhiệm phải gắn điều kiện quy trình, công khai và không vụ lợi; đồng thời có cơ chế phòng, chống trục lợi, tham nhũng và kiểm toán để xử lý nghiêm sai phạm.

Đ. KHOA