Hoàn thiện quy định quản lý thuế minh bạch, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp

Pháp luật - Ngày đăng : 13:41, 27/03/2026

(BKTO) - Trong bối cảnh phát triển nhanh của nền kinh tế số, việc hoàn thiện quy định về quản lý thuế là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) trong tuân thủ pháp luật.

Ngày 27/3, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục Thuế, Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định về hoá đơn điện tử, chứng từ điện tử”.

20260327_084524.jpg
Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: D.Thiện

Phát biểu tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI cho biết, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trong đó một số quy định về khai thuế, tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Hai nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế và quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử là các văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến hàng triệu người nộp thuế trên cả nước. Chất lượng của các nghị định này sẽ quyết định phần lớn trải nghiệm tuân thủ thuế của DN trong nhiều năm tới.

Từ góc nhìn của cộng đồng DN, ông Tuấn cho biết, về những điểm tích cực, VCCI ghi nhận tinh thần đổi mới rõ nét mà cơ quan soạn thảo đã thể hiện.

Cụ thể, việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế, từ giao dịch điện tử, cơ sở dữ liệu tập trung, đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro là phù hợp với xu thế quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Cùng với đó, nguyên tắc lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ được quán triệt xuyên suốt trong cả hai dự thảo. Việc bãi bỏ thuế khoán, mở rộng các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế khi cơ quan thuế đã kết nối được dữ liệu, quy định chế độ ưu tiên cho DN tuân thủ tốt, đơn giản hóa thủ tục hành chính... cũng đều là những bước tiến đáng khích lệ.

Bên cạnh những điểm tích cực, đại diện VCCI cho biết, các dự thảo nghị định vẫn còn nhiều nội dung cần được xem xét thấu đáo.

Một là, về tính rõ ràng và khả thi của các quy định. Một số điều khoản trong dự thảo vẫn còn khái quát, để lại nhiều nội dung cho thông tư hướng dẫn. DN mong muốn các quy định ở cấp nghị định đủ cụ thể để thực hiện được ngay, tránh tình trạng phải chờ đợi nhiều tầng văn bản hướng dẫn mới có thể triển khai.

Hai là, về quản lý thuế thương mại điện tử xuyên biên giới. Đây là lĩnh vực mới, phức tạp và đang phát triển nhanh. Cơ chế khấu trừ, khai thay, nộp thay của chủ quản nền tảng thương mại điện tử cần được thiết kế sao cho vừa chống thất thu hiệu quả, vừa không tạo gánh nặng quá lớn cho các nền tảng và DN hoạt động hợp pháp. Sự công bằng giữa DN trong nước và DN nước ngoài kinh doanh trên không gian số là vấn đề cộng đồng DN hết sức quan tâm.

Ba là, về hóa đơn điện tử. Việt Nam đã đạt thành tựu ấn tượng với hơn 20 tỷ hóa đơn điện tử đã phát hành. Tuy nhiên, DN vẫn gặp vướng mắc trong một số tình huống cụ thể như: thời điểm lập hóa đơn, xử lý sự cố kỹ thuật, hóa đơn từ máy tính tiền, các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử. Nghị định mới cần giải quyết triệt để những vấn đề này.

Bốn là, về cưỡng chế thuế và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DN. Dự thảo cho phép thực hiện đồng thời nhiều biện pháp cưỡng chế và quy định ngưỡng nợ thuế nhỏ không áp dụng cưỡng chế, đây là điểm hợp lý. Tuy nhiên, cần cân nhắc kỹ để các biện pháp cưỡng chế không ảnh hưởng quá mức đến hoạt động kinh doanh bình thường, đặc biệt là đối với DN vừa và nhỏ.

“Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra yêu cầu cụ thể là cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật. Mỗi điều khoản trong hai nghị định này cần được đánh giá trên cơ sở mục tiêu đó. Một văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng là được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, lắng nghe đầy đủ ý kiến của đối tượng chịu tác động và có thể triển khai thuận lợi trong thực tế” - ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.

20260327_084342.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI phát biểu. Ảnh: D.Thiện

Góp ý thêm đối với Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế, ông Bùi Ngọc Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Deloitte Việt Nam cho biết, liên quan đến quy định công khai thông tin người nộp thuế, Dự thảo quy định: Cơ quan thuế có quyền công khai thông tin gồm: mã số thuế, tên người nộp thuế, địa chỉ, lý do công khai… chủ sở hữu hưởng lợi của DN, chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật… qua các hình thức như cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí.

Theo ông Tuấn, trên thực tế việc thực hiện các thủ tục đóng cửa công ty, chấm dứt hiệu lực mã số thuế được thực hiện trong thời gian dài do nhiều lý do khách quan, nhiều trường hợp không phải lỗi của người nộp thuế, hoặc phát sinh trường hợp DN không hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng sau đó xác minh và mở lại, theo đó việc công khai thông tin liên quan đến chủ sở hữu hưởng lợi, chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật có thể ảnh hưởng đến uy tín, quyền lợi của DN và cá nhân liên quan. Vì vậy, việc công khai thông tin cần có quy trình, thời gian phù hợp.

Trên cơ sở đó, đại diện Deloitte Việt Nam đề xuất cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế về công khai thông tin và được người nộp thuế xác nhận, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng, theo hướng quy định cụ thể như sau: “Trước khi công khai thông tin, cơ quan quản lý thuế phải gửi thông báo dự kiến công khai cho người nộp thuế bằng phương thức điện tử hoặc thông báo trực tiếp trong đó nêu rõ lý do và nội dung dự kiến công khai cho người nộp thuế xác nhận, trừ các trường hợp bất khả kháng. Người nộp thuế có quyền giải trình hoặc khắc phục vi phạm trong thời hạn tối thiểu 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo”.

Liên quan đến trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc xử lý chấm dứt hiệu lực mã số thuế, Dự thảo Nghị định chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Ông Tuấn cho rằng, việc kéo dài thời hạn kiểm tra thuế có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Khi người nộp thuế chấm dứt hoạt động kinh doanh, việc hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế là điều kiện cần thiết để thực hiện các thủ tục pháp lý tiếp theo như giải thể DN, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc hoàn tất nghĩa vụ với các cơ quan quản lý khác. Nếu thời gian xử lý kéo dài sẽ gây khó khăn cho người nộp thuế và làm chậm tiến độ thực hiện các thủ tục hành chính liên quan.

Do đó, đại diện Deloitte Việt Nam đề xuất bổ sung vào Khoản 2, Điều 7, Dự thảo Nghị định như sau: “Cơ quan thuế có trách nhiệm thực hiện kiểm tra thuế và ban hành kết luận trong vòng 30 ngày từ khi người nộp thuế hoàn thành đầy đủ thủ tục nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế”.

Góp ý thêm cho Dự thảo Nghị định, ông Nguyễn Đức Thuận - Chủ tịch Hội các nhà quản trị DN Việt Nam cho biết, Dự thảo chưa có quy định về vấn đề liên quan đến khai thuế thu nhập DN đối với DN nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam phát sinh thu nhập liên quan đến cơ sở thường trú đó.

Ông Thuận cho biết, loại hình “cơ sở thường trú” là khái niệm rất quan trọng trong thông lệ quốc tế, được thừa nhận rộng rãi trong các hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Khi DN nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú, phần thu nhập phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ thuộc quyền thu thuế của Việt Nam. Tuy nhiên, Thông tư 20/2025/TT-BTC quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập DN không quy định rõ phương pháp tính thuế cho nhóm đối tượng này, tạo nên sự không rõ ràng về cơ chế pháp lý, dẫn đến rủi ro khi xác định nghĩa vụ thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.

“Chúng tôi kiến nghị Bộ Tài chính cân nhắc trình Chính Phủ tiếp tục áp dụng các quy định về thuế nhà thầu đối với các đối tượng này, cụ thể là bổ sung quy định hướng dẫn khai, nộp thuế khấu trừ tại nguồn theo phương pháp trực tiếp thông qua bên Việt Nam. Trong thời gian chưa có hướng dẫn, đề nghị Bộ Tài chính cho phép DN tiếp tục kê khai nộp thuế theo cơ chế thuế nhà thầu để đảm bảo tính liên tục và tránh việc thất thu thuế cho Nhà nước cũng như rủi ro không tuân thủ cho DN” - ông Thuận nêu quan điểm.

Góp ý cho Dự thảo Nghị định quy định về hoá đơn điện tử, chứng từ điện tử, ông Nguyễn Đức Thuận cho biết, hiện quy định hiện hành không có hướng dẫn về việc xuất hóa đơn đối với trường hợp xuất hàng hóa bảo hành, thay thế cho hàng hóa đã xuất bán trước đó nhưng bị lỗi hỏng và người bán đã xuất hóa đơn cho người mua. Do vậy, thực tế DN gặp khó khăn, lúng túng không rõ có phải hủy hóa đơn cũ, xuất hóa đơn mới khi xuất hàng bảo hành hay không. Thực tế cũng có thể có nhiều diễn giải khác nhau dẫn đến việc thực hiện không thống nhất.

“Dự thảo nên có quy định việc xuất hàng bảo hành như trên thuộc trường hợp không phải xuất hóa đơn điện tử, do thực tế giao dịch bán hàng, ghi nhận doanh thu bán hàng đã phát sinh từ trước đó. Việc xuất hàng bảo hành chỉ là xuất bù hàng đã bán do hàng bị lỗi hỏng” - ông Thuận đề xuất.

Trên cơ sở những ý kiến, góp ý của các DN, hiệp hội, ông Đặng Ngọc Minh - Phó Cục trưởng Cục Thuế, Bộ Tài chính cũng như các cán bộ của Cục Thuế tham dự Hội thảo đã trao đổi, phản hồi giải đáp những nội dung được các đại biểu đề cập.

Lãnh đạo Cục Thuế cũng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc xem xét, cân nhắc các ý kiến góp ý trong quá trình hoàn thiện các dự thảo nghị định, để hướng đến đạt được mục tiêu là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, minh bạch, công bằng, tạo thuận lợi tối đa cho DN tuân thủ và xử lý kịp thời các hành vi gian lận, trốn thuế./.

DIỆU THIỆN