Mở rộng thẩm quyền quyết định kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm
Tài chính - Ngày đăng : 20:36, 28/03/2026

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ công.
Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 Nghị định:
Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/6/2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ;
Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về quản lý nợ của chính quyền địa phương;
Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công;
Nghị định số 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 83/2023/NĐ-CP ngày 29/11/2023;
Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 79/2021/NĐ-CP ngày 16/8/2021.
Theo Bộ Tài chính, đối với Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, thực tế cho thấy, tiến độ chuẩn bị đầu tư, ký kết và giải ngân các dự án ODA, vay ưu đãi nước ngoài còn chậm, có dự án mất 3-5 năm để hoàn tất ký hiệp định vay. Luật số 141/2025/QH15 đã thay thế khâu "đề xuất dự án" bằng "đề xuất khoản vay" với thủ tục giản lược hơn, do đó nghị định cần được điều chỉnh tương ứng; đồng thời rà soát các quy định về hạn mức bảo lãnh Chính phủ, kế hoạch vay - trả nợ hằng năm, cơ chế cấp phát cho UBND cấp tỉnh và đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 16 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về trình tự lập, quyết định kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm như sau:
Sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng mở rộng thẩm quyền quyết định kế hoạch vay, trả nợ, chuyển từ "Chính phủ quyết định" sang "cấp có thẩm quyền quyết định". Cụ thể:
"3. Đối tượng vay lại, đối tượng được bảo lãnh lập kế hoạch vay, trả nợ đối với các khoản vay lại và bảo lãnh Chính phủ, gửi Bộ Tài chính để xác định hạn mức vay ODA, vay ưu đãi về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ và Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, trình cấp có thẩm quyền quyết định."
Sửa đổi, bổ sung khoản 5 về việc xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm theo hướng đơn giản hóa quy trình, cụ thể hóa thời hạn, đồng thời bổ sung cơ chế kiểm soát rủi ro:
"5. Căn cứ vào tổng mức vay, trả nợ của ngân sách nhà nước hằng năm đã được Quốc hội quyết định, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm bao gồm cả hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 11 của năm liền kề trước năm kế hoạch.
Trường hợp tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ vượt quá tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định hạn mức bảo lãnh Chính phủ trước khi tổng hợp vào kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm.
Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm trước ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm kế hoạch."
Đồng thời, bổ sung khoản 7 vào sau khoản 6 về trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ:
7. Sau khi kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm đã được phê duyệt, trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ nêu tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ dẫn đến tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh thấp hơn hoặc bằng tốc độ tăng dư nợ của năm trước đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định điều chỉnh hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo khoản 3 Điều 14 Nghị định này. Hạn mức bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh được thực hiện theo quyết định của Chính phủ, không yêu cầu thực hiện thủ trình lại kế hoạch vay, trả nợ công.
Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 19 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về quản lý việc huy động vốn vay; bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 về các yêu cầu đối với việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu; bổ sung Điều 28a vào sau Điều 28 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP quy định về việc công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 25/3/2026./.