Ngược dòng khó khăn, xuất khẩu thủy sản tiếp đà tăng trưởng cao

Doanh nghiệp - Ngày đăng : 12:33, 07/04/2026

(BKTO) - Tiếp đà tăng trưởng năm 2025, ngành thủy sản ngược dòng khó khăn, đạt giá trị xuất khẩu cao, hơn 2,62 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là động lực quan trọng để ngành hướng đến chinh phục những mục tiêu cao hơn.
muc-tieu-xuat-khau-nong-lam-thuy-san-dat-31-ty-usd-nam-2016-kho-hay-de-18-.8373.jpg
Ngược dòng khó khăn chung, xuất khẩu thủy sản tiếp đà tăng trưởng cao. Ảnh ST

Bức tranh xuất khẩu thủy sản với nhiều gam màu sáng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT), trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gặp nhiều thách thức do tình hình xung đột trên thế giới; cũng như các quốc gia thắt chặt chi tiêu đối với các mặt hàng không thiết yếu, ngành thủy sản vẫn nỗ lực vượt khó để đạt mục tiêu đề ra.

Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tháng 3 năm 2026 ước đạt 900 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Tính chung trong toàn ngành nông nghiệp, thủy sản vẫn là một trong những ngành hàng chủ lực duy trì tăng trưởng, trong khi một số nhóm ngành hàng chủ lực đang có dấu hiệu suy giảm, điển hình là gỗ và sản phẩm gỗ (giảm 3,5%), cà phê (giảm 6,4%), hạt điều (giảm 1,8%).

“Điều này cho thấy tính chất của thị trường, đặc biệt là những nỗ lực không ngừng của hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp và cơ quan chức năng đã giữ vững đà tăng trưởng cao” - Thứ trưởng Bộ NNMT Phùng Đức Tiến cho biết.

Trong khi xuất khẩu tiếp đà tăng thì ở chiều ngược lại, giá trị nhập khẩu hàng thủy sản tháng 3 năm 2026 ước đạt 280 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu hàng thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 đạt 746,8 triệu USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Xét về thị trường, Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 28,5%, 13,6% và 12,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản 2 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 58,5%, thị trường Nhật Bản tăng 4,8%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 2,9%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 58,5% so với cùng kỳ năm ngoái. 

gen-h-z7699218184631_93ce79578aff7a789cf8021c1983249a.jpg
Nhiều hộ nuôi thủy sản tỉnh Đồng Tháp cho biết, chi phí đầu vào tăng, gây khó khăn cho các hộ nuôi trồng. Ảnh: N.Lộc

Tuy nhiên, theo Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ NNMT) Trần Gia Long, đà tăng trưởng này đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là từ thị trường Trung Đông - khu vực tiềm năng với kim ngạch hơn 401 triệu USD/năm đang bị ảnh hưởng bởi xung đột kéo dài, tác động trực tiếp đến thương mại và logistics.

Xuất khẩu thủy sản đứng trước rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu và Bắc Âu.

Theo phản ánh của doanh nghiệp, đơn hàng vẫn được duy trì nhưng thời gian vận chuyển kéo dài, lịch tàu thiếu ổn định. Một số doanh nghiệp đã tạm dừng xuất khẩu sang khu vực này do rủi ro vận tải gia tăng. Cùng với đó, áp lực chi phí khiến doanh nghiệp vừa phải kiểm soát đầu vào, vừa phải giữ giá bán cạnh tranh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Chủ động thích ứng với thị trường, đảm bảo nguồn cung cho xuất khẩu

Trong bối cảnh biến động, ngành nông nghiệp đặt ra mục tiêu đảm bảo nguồn cung cho xuất khẩu thủy sản cũng như tiêu dùng trong nước; đồng thời ngành hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang dịch chuyển theo hướng ưu tiên các sản phẩm có giá hợp lý, phù hợp với thị hiếu của khách hàng, lấy chất lượng sản phẩm làm lợi thế cạnh tranh.

gen-h-z7699263516599_97269cbe26ace0e7a90a264554f78731.jpg
Các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng tiêu dùng để xây dựng sản phẩm xuất khẩu phù hợp. Trong ảnh, công nhân chế biến tôm xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Ảnh: N.Lộc

Theo đó, do ảnh hưởng của tình hình xung đột, cũng như lạm phát tại nhiều quốc gia là thị trường tiêu thụ chính của Việt Nam, khách hàng tại các thị trường này có xu hướng giảm sử dụng các mặt hàng cao cấp như tôm sú, thay vào đó chuyển sang các sản phẩm phổ thông như cá tra, cá rô phi, surimi và thủy sản chế biến.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhận định, đây là cơ hội để ngành tái cơ cấu sản phẩm, tập trung vào phân khúc có nhu cầu ổn định và quy mô lớn. Thực tế, thị trường cá surimi toàn cầu được dự báo đạt 7,83 tỷ USD vào năm 2034, trong khi thị trường cá rô phi có thể vượt 24 tỷ USD vào năm 2035, cho thấy dư địa tăng trưởng rất lớn.

“Đây là lợi thế cho các sản phẩm như cá tra, cá rô phi..., những mặt hàng có giá cạnh tranh và phù hợp với nhiều phân khúc tiêu dùng và là thế mạnh của Việt Nam” - Tổng Thư ký Hiệp hội, ông Nguyễn Hoài Nam cho biết.

Tại cuộc họp báo thường kỳ Bộ NNMT mới đây, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhận định, cá rô phi đang nổi lên như một sản phẩm chiến lược với nhu cầu lớn từ các thị trường như Mỹ, Brazil và Trung Quốc. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi có thể đạt trên 2 tỷ USD trong thời gian tới, tiệm cận quy mô của ngành cá tra.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành thủy sản cần tập trung nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đầu tư hạ tầng và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị.

Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa, ngày 02/3/2026, Bộ NNMT đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000 tấn/năm, giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Trong đó, nuôi lồng bè chiếm hơn 190.000 tấn, nuôi thả trực tiếp hơn 70.000 tấn. Đồng thời, tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động, với trên 30% là đồng bào dân tộc thiểu số.

Song song đó, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đặc biệt trong nuôi trồng là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế. Đây cũng là nền tảng để chuyển dịch từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng cho toàn ngành.

Từ góc độ ngành hàng, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp về thủy sản cho biết, Bộ NNMT cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Bộ Công Thương và các doanh nghiệp đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá sản phẩm, tìm kiếm thị trường thay thế có nhu cầu tương đồng sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, hạn chế tồn kho và tránh đứt gãy chuỗi cung ứng.

Về phía cơ quan quản lý, cần tăng cường cung cấp thông tin thị trường, cảnh báo sớm rủi ro, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới.

Đồng thời, cần đảm bảo nguồn cung cho xuất khẩu; sẵn sàng mọi phương án đẩy mạnh xuất khẩu khi thị trường thuận lợi trở lại.

Thông tin về vấn đề này, ông Nhữ Văn Cẩn - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NNMT) - cho biết, trong tháng 3/2026, nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá và đóng vai trò là động lực tăng trưởng của ngành nhờ mở rộng diện tích nuôi thâm canh và ứng dụng công nghệ cao. 

Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 2,18 triệu tấn, tăng 3,2%. Trong đó, sản lượng nuôi trồng ước đạt gần 1,3 triệu tấn, tăng 5,4%. Tổng sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 887,2 nghìn tấn, tăng 0,2%...

Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa vẫn gặp nhiều khó khăn. Sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu do các hộ cá thể thực hiện, thiếu sự liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị. Điều này khiến năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng.

Nuôi biển dù đã có bước khởi đầu nhưng quy mô còn hạn chế, công nghệ chưa đồng bộ. Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, từ giao thông, cấp thoát nước đến hệ thống giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn yếu. Chuỗi cung ứng thiếu liên kết khiến chi phí sản xuất cao, giảm sức cạnh tranh.

65171090612474711608729655412082651635738558n-1775092693141822119147.jpg
Đảm bảo nguồn cung thủy sản cho xuất khẩu, trong đó cần đẩy mạnh công tác nuôi trồng thủy sản

Trong khi đó, một trong những tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả lại nằm ở hệ thống hồ chứa. Việt Nam hiện có khoảng 6.750 hồ thủy lợi với tổng dung tích 14,5 tỷ m³ cùng hơn 700 hồ thủy điện, nâng tổng dung tích toàn hệ thống lên trên 50 tỷ m³.

“Những thách thức này đã được cơ quan chức năng nhận diện và đang thực hiện quyết liệt các giải pháp để tháo gỡ, hướng đến thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đã đề ra” - ông Cẩn cho biết./.

N.LỘC