Tăng trưởng hai con số và bài toán huy động nguồn lực

Kinh tế - Ngày đăng : 11:43, 09/04/2026

(BKTO) - Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026-2030 đang đặt nền kinh tế trước một yêu cầu chưa từng có về huy động và sử dụng nguồn lực. Khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính cần tới 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn trước, câu hỏi không còn dừng lại ở việc tìm vốn ở đâu, mà quan trọng hơn là làm thế nào để dòng vốn được phân bổ hiệu quả, bền vững và tạo ra động lực tăng trưởng thực chất.
11-anh-3-1-.jpeg
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được xem là yếu tố then chốt để đạt tăng trưởng hai con số. Ảnh: ST

Khơi thông các nguồn lực của nền kinh tế

Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương tốc độ tăng vốn đầu tư khoảng 16% mỗi năm, đưa tỷ lệ đầu tư/GDP từ khoảng 33% lên khoảng 40%. Tuy nhiên, trong khi nhu cầu vốn gia tăng mạnh, cấu trúc cung ứng vốn của nền kinh tế vẫn còn nhiều điểm nghẽn.

Hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực khi tín dụng chiếm khoảng 50-55% tổng vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 145-147% và có thể tiến sát 180% vào năm 2030 nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hiện nay. Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) Nguyễn Lê Nam cho biết, cấu trúc hệ thống tài chính hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa thực sự phát huy vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn, khiến áp lực cung ứng vốn ngày càng dồn lên hệ thống ngân hàng.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cũng cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động từ xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng đến rủi ro dòng vốn toàn cầu, việc cung ứng vốn tín dụng cho doanh nghiệp và người dân cần đi đôi với bảo đảm an toàn hệ thống, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này đồng nghĩa với việc tín dụng ngân hàng khó có thể mở rộng mạnh như giai đoạn trước.

Trong khi đó, nhiều nguồn lực trong nền kinh tế vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam hiện đạt khoảng 37% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư mới khoảng 31% GDP, cho thấy dư địa huy động vốn trong nước còn khá lớn. Ngoài ra, các nguồn lực như kiều hối, tài chính xanh quốc tế, dòng vốn FDI, thặng dư thương mại hay nguồn lực trong dân cư như vàng và bất động sản đều có tiềm năng lớn.

Cũng theo TS. Cấn Văn Lực, lượng kiều hối gửi về Việt Nam mỗi năm đạt khoảng 7-10 tỷ USD. Cùng với các nguồn lực mới như thị trường carbon, trung tâm tài chính quốc tế, tài sản số..., nếu được thiết kế phù hợp, có thể góp phần cải thiện khả năng luân chuyển dòng vốn.

Đáng chú ý, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ - cho rằng, lượng tiền nhàn rỗi dưới dạng tiết kiệm, vàng và ngoại tệ trong dân có thể lên tới khoảng 500.000 tỷ đồng, tương đương hàng chục tỷ USD. Tuy nhiên, dòng tiền này chủ yếu nằm ngoài sản xuất - kinh doanh, chưa tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

“Đây là nguồn lực quan trọng cần được điều hướng vào khu vực sản xuất thay vì nằm yên hoặc phục vụ đầu cơ, tích trữ” - ông Thành nhấn mạnh; đồng thời cho biết, hiện có khoảng 800-1.000 dự án đang “đóng băng”. Nếu được tháo gỡ, nền kinh tế có thể được bổ sung thêm hàng trăm nghìn tỷ đồng, tạo cú hích tăng trưởng trong ngắn hạn.

Thêm vào đó, TS. Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam - nhận định, khoảng 1 triệu tỷ đồng nợ xấu đang là “cục máu đông” cản trở dòng vốn lưu thông trong nền kinh tế. Nếu xử lý hiệu quả, chi phí vốn sẽ giảm, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp được cải thiện và tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Song song với huy động nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được xem là yếu tố then chốt để đạt tăng trưởng hai con số. Theo định hướng của Chính phủ, hệ số ICOR của Việt Nam cần giảm từ mức khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026-2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước.

TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Trong đó, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và cải thiện hiệu quả thị trường là những yếu tố then chốt.

Cần sớm xây dựng một chiến lược tổng thể về huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, gắn với nâng cao năng suất, chuyển đổi số và chất lượng tăng trưởng, tránh tư duy ứng phó ngắn hạn, “chữa cháy” - vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực
Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV

Ở góc độ điều hành chính sách, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) - bà Phạm Thị Thanh Tâm - thông tin, chính sách tài chính thời gian tới sẽ tập trung huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực. Ngân sách nhà nước tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao nhằm tạo “vốn mồi” thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Cùng với đó, thị trường vốn sẽ được phát triển theo hướng minh bạch, hiện đại; trong đó, nâng cao quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ, tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm.

Ở góc độ tổ chức tín dụng, Phó Tổng Giám đốc BIDV - ông Đoàn Việt Nam - cho hay, ngân hàng đang tăng cường thu xếp vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và logistics, đồng thời mở rộng hợp tác với các định chế tài chính quốc tế để huy động nguồn vốn trung và dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực chuyển đổi xanh.

Ngoài ra, theo ông Đào Minh Tú - Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, bài toán nguồn lực cần được nhìn nhận ở tầm quốc gia với tầm nhìn dài hạn. Nguồn lực cho tăng trưởng không chỉ là vốn tiền tệ mà còn bao gồm vốn tài sản, lao động, tri thức và dòng vốn quốc tế. Việc phát huy nội lực phải đi đôi với thu hút hiệu quả nguồn lực bên ngoài, đồng thời khơi thông các nguồn lực đang nằm trong dân cư và doanh nghiệp./.

HỒNG NHUNG