“Sứ mệnh” dẫn dắt tăng trưởng của các tập đoàn kinh tế

Kinh tế - Ngày đăng : 14:00, 14/04/2026

(BKTO) - Sau 40 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu ấn tượng, song cũng đang đứng trước những đòi hỏi chuyển đổi đột phá về mô hình tăng trưởng. Trong tiến trình đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thúc đẩy các tập đoàn kinh tế không chỉ là lực lượng tạo tăng trưởng, mà phải đóng vai trò dẫn dắt, kiến tạo không gian phát triển mới cho nền kinh tế.
20260413_140104.jpg
Quang cảnh Hội thảo "40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế"

Lực lượng đông nhưng chưa mạnh

Chia sẻ tại Hội thảo “40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức chiều 13/4, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế ấn tượng. Quy mô nền kinh tế đến hết năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; tăng trưởng bình quân 5 năm gần đây đạt 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%; thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Tiềm lực và vị thế quốc gia vì thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Đóng góp vào những thành tựu này có vai trò đặc biệt quan trọng của các tập đoàn kinh tế – lực lượng “đầu tàu” của nền kinh tế. Dù thuộc khu vực nhà nước hay tư nhân, các tập đoàn đều khẳng định vị thế là trụ cột tăng trưởng, không chỉ đóng góp lớn vào GDP, ngân sách, tạo việc làm mà còn trực tiếp triển khai nhiều dự án trọng điểm, đưa thương hiệu Việt vươn ra quốc tế, qua đó củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Chia sẻ thêm về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, sự phát triển của khu vực này trong gần ba thập niên qua được đánh giá là vượt xa kỳ vọng. Số doanh nghiệp tư nhân trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đã tăng đáng kể, từ 263 doanh nghiệp năm 2016 lên 315 doanh nghiệp năm 2023. Đáng chú ý, Việt Nam hiện có 76 doanh nghiệp lọt vào bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 năm 2025.

Đặc biệt, về năng lực thích ứng, khu vực tư nhân đã thể hiện sức chống chịu đáng kể qua nhiều cú sốc. Đơn cử, trong đại dịch Covid-19, khi chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng điều chỉnh thị trường, sản phẩm và phương thức kinh doanh. Một số doanh nghiệp chuyển đổi sang sản xuất thiết bị y tế, khẩu trang, vật tư phòng dịch chỉ trong vài tuần. Khả năng phản ứng nhanh này là lợi thế mà khu vực nhà nước hay khu vực FDI khó có thể sánh được.

Về đóng góp xã hội, các tập đoàn tư nhân lớn ngày càng tham gia tích cực vào các hoạt động an sinh, giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng. Nhiều doanh nghiệp đã thành lập quỹ từ thiện, tài trợ học bổng, xây dựng trường học và bệnh viện tại các vùng khó khăn. Đây không chỉ là trách nhiệm xã hội mà còn phản ánh sự trưởng thành trong tư duy của giới doanh nhân Việt Nam, đó là thành công kinh doanh phải gắn liền với đóng góp cho cộng đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, ông Đậu Anh Tuấn cho biết, nếu đặt khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong tương quan khu vực và thế giới có thể thấy một nghịch lý nổi lên rõ ràng đó là lực lượng doanh nghiệp đông nhưng chưa mạnh, năng động nhưng chưa sâu, đóng góp lớn nhưng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn khiêm tốn.

Biểu hiện cụ thể là, quy mô doanh nghiệp nhỏ bé và phân mảnh. Gần 97% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó khoảng 70% có quy mô dưới 10 lao động. Với quy mô quá nhỏ, doanh nghiệp không thể đầu tư đủ lớn để đổi mới công nghệ. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có liên hệ với chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% năm 2009 xuống chỉ còn 18% năm 2023.

Bên cạnh đó, năng suất lao động của khu vực kinh tế tư nhân còn rất thấp, thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước và FDI, đồng thời chênh lệch này càng ngày càng mở rộng. Điều này chủ yếu do sự yếu kém, manh mún, phi chính thức của cơ cấu doanh nghiệp tư nhân.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn thiếu tích lũy năng lực dài hạn. Đầu tư cho R&D trong khu vực tư nhân còn khiêm tốn. Tỷ lệ chi R&D trên GDP của Việt Nam chỉ khoảng 0,67%, trong đó doanh nghiệp tư nhân mới chiếm khoảng 44% tổng chi tiêu R&D. Nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia đình, thiếu cơ chế minh bạch và quản trị chuyên nghiệp.

Đề cập thêm về hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân, TS. Bùi Thanh Minh – Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) – cho biết, lực lượng doanh nghiệp lớn của Việt Nam chưa thực sự tương xứng với yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới, cả về số lượng lẫn cơ cấu ngành. Nhiều doanh nghiệp lớn hiện nay vẫn tập trung ở các lĩnh vực như bất động sản, tài chính, ngân hàng hoặc những ngành dựa nhiều vào lợi thế thị trường nội địa. Trong khi đó, Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh nổi trội trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp chế tạo tiên tiến, công nghiệp nền tảng và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Điều này khiến nền kinh tế chưa hình thành được đầy đủ lực lượng doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt quá trình nâng cấp công nghệ, đổi mới sáng tạo và tái cấu trúc chuỗi giá trị theo hướng hiện đại hơn.

Ngoài ra, trong nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi những mắt xích có giá trị cao hơn vẫn tiếp tục tập trung chủ yếu ở khu vực FDI.

hnh04603.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát biểu

Khơi thông nguồn lực cho phát triển các tập đoàn kinh tế

Theo các chuyên gia, Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mang tính bước ngoặt. Mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi mô hình tăng trưởng phải được tái định hình theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chủ đạo. Trong tiến trình đó, các tập đoàn kinh tế tư nhân cần đảm nhận vai trò dẫn dắt, không chỉ dừng lại ở việc tham gia vào tăng trưởng mà phải trở thành lực lượng kiến tạo, định hình các động lực phát triển mới của nền kinh tế.

Để các tập đoàn kinh tế thực hiện được “sứ mệnh” này, TS. Bùi Thanh Minh cho rằng cần khơi thông nguồn lực cho phát triển các tập đoàn kinh tế. Theo đó, trước hết đột phá phải bắt đầu từ thể chế kiến tạo. Một môi trường phát triển lành mạnh cho các tập đoàn kinh tế chủ lực không thể hình thành nếu quyền tài sản chưa được bảo đảm đầy đủ, quyền tự do kinh doanh còn bị hạn chế bởi các rào cản hành chính và chi phí tuân thủ vẫn bị đẩy lên bởi tình trạng chồng chéo, phân tán và thiếu nhất quán của hệ thống pháp luật.

Do đó, cải cách thể chế trong giai đoạn tới phải hướng tới việc thiết lập một khuôn khổ minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao, trong đó doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cùng với đó, cần mở đường về mặt pháp lý cho quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực theo cơ chế thị trường, coi đây là điều kiện thiết yếu để hình thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn trong những ngành đòi hỏi vốn cao, công nghệ cao và tầm nhìn đầu tư dài hạn.

Trọng tâm tiếp theo là phải đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí hạt nhân của chiến lược phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, dữ liệu, công nghệ lõi và năng lực tổ chức chuỗi giá trị, một tập đoàn lớn nhưng không làm chủ công nghệ, không có năng lực nghiên cứu và phát triển, không tạo ra được tài sản trí tuệ và không chiếm lĩnh được các mắt xích có giá trị gia tăng cao thì khó có thể đóng vai trò dẫn dắt.

Vì vậy, tiêu chí xác định doanh nghiệp đầu tàu trong giai đoạn mới phải được chuyển từ tư duy “lớn về tài sản, lớn về doanh thu” sang tư duy “mạnh về công nghệ, mạnh về đổi mới, mạnh về năng lực kiến tạo hệ sinh thái”. Đây cũng là cách để bảo đảm rằng việc phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực không đi theo lối mòn quy mô đã cũ, mà thực sự trở thành động lực nâng cấp nền kinh tế.

Chia sẻ thêm về vấn đề thể chế, ông Phan Đức Hiếu - Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh, để nâng cao chất lượng các tập đoàn lớn và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, yếu tố then chốt là thể chế phải thực sự đơn giản, thông thoáng. Đồng thời, khâu tổ chức thực thi chính sách cần được chú trọng, nâng cao hiệu quả trên thực tế.

Theo ông Hiếu, mỗi chính sách khi ban hành phải đi kèm với một thiết chế thực thi rõ ràng, hiệu quả. Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân mảnh. Đây được kỳ vọng là một cuộc cải cách thể chế mang tính toàn diện, bởi nếu chỉ sửa đổi cục bộ mà thiếu cách tiếp cận hệ thống, quá trình cải cách khó đạt được kết quả như mong muốn. “Tôi kỳ vọng cộng đồng doanh nghiệp sẽ tích cực tham gia vào quá trình rà soát này, qua đó góp phần hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, hiệu quả và bền vững hơn” - ông Hiếu bày tỏ.

Đưa thêm khuyến nghị, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, để các tập đoàn tư nhân thực sự phát huy vai trò dẫn dắt, cần thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Theo đó, thay vì hoạt động rời rạc, các tập đoàn lớn phải đóng vai trò “đầu tàu”, dẫn dắt và hỗ trợ các doanh nghiệp vệ tinh thông qua việc phát triển chuỗi cung ứng nội địa, chuyển giao công nghệ cũng như kinh nghiệm quản trị. “Không có một nền công nghiệp hiện đại nào có thể phát triển nếu thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các tầng nấc doanh nghiệp trong chuỗi giá trị” - ông Tuấn nhấn mạnh.

Song song với đó, các tập đoàn tư nhân cũng cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, hướng tới chuyên nghiệp hóa bằng việc áp dụng các chuẩn mực về minh bạch, quản trị rủi ro và tiêu chí phát triển bền vững (ESG). Đây không chỉ là yêu cầu nội tại để nâng cao sức cạnh tranh, mà còn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế./.

DIỆU THIỆN