Kinh tế số: Bài toán tạo đột phá cho tăng trưởng
Kinh tế - Ngày đăng : 15:59, 24/04/2026

Tăng trưởng nhanh nhưng chưa bứt phá về chất
Ngày 24/4, Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026” với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới”.
Phát biểu tại Hội thảo, TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, trong bối cảnh hiện nay, tình hình quốc tế đang có nhiều biến động khó lường, đáng chú ý là các xung đột địa chính trị ngày càng diễn biến phức tạp. Xung đột tại khu vực Trung Đông đến nay vẫn khó đoán định, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, làm gián đoạn hoạt động kinh tế, thương mại, logistics và chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Bên cạnh đó, đồng USD có xu hướng tăng giá, đi kèm với điều kiện tài chính thắt chặt, gia tăng áp lực lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế.
Trong bối cảnh nhiều thách thức chung, có thể khẳng định rằng quốc gia nào tận dụng tốt cơ hội, phát huy lợi thế và khai thác hiệu quả tiềm năng của kinh tế số sẽ có thêm không gian phát triển. Qua đó, không chỉ giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường địa kinh tế - chính trị toàn cầu mà còn tạo điều kiện để bứt phá, tăng tốc trong quá trình phát triển.
Về phát triển kinh tế số tại Việt Nam, TS. Nguyễn Đức Hiển cho biết, từ năm 2019, Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã chính thức đề ra định hướng phát triển kinh tế số, với mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số sẽ chiếm khoảng 30% GDP.
Hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, đến nay, phát triển kinh tế số ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả nhất định. Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2025, quy mô kinh tế số của Việt Nam ước đạt khoảng 72,1 tỷ USD, chiếm khoảng 14% - 14,2% GDP. Nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao như nội dung số, du lịch trực tuyến, vận tải số… với tốc độ tăng trưởng từ 16 - 20%/năm. Đáng chú ý, quy mô của 4 sàn thương mại điện tử lớn nhất Việt Nam trong năm 2025 đạt khoảng 429,7 nghìn tỷ đồng, tăng 34,75% so với năm trước, cho thấy sự mở rộng nhanh chóng của thị trường số trong nước. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động học hỏi, ứng dụng công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác các nền tảng số nhằm đổi mới phương thức quản trị, mở rộng tiếp cận thị trường và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên, theo ông Hiển, thực tế cho thấy sự phát triển của kinh tế số vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng về vai trò dẫn dắt tăng trưởng, trong khi mục tiêu đến năm 2030 đạt tỷ trọng 30% GDP là thách thức rất lớn.
Chỉ rõ những hạn chế, ông Hiển cho biết, xét về cơ cấu, ngoài phần kinh tế số lõi, khu vực kinh tế số ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực vẫn phát triển chưa đồng đều. Một số lĩnh vực dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán được đánh giá là tiên phong, song trong lĩnh vực sản xuất, mức độ ứng dụng công nghệ số còn khá hạn chế.
“Mặc dù từ năm 2019, Việt Nam đã đề ra chủ trương phát triển sản xuất thông minh, ban hành nhiều định hướng về tiêu chuẩn, quy chuẩn, thúc đẩy triển khai và thí điểm các mô hình, nhưng đến nay kết quả vẫn còn khiêm tốn. Điều này cho thấy việc ứng dụng công nghệ số và thúc đẩy phát triển kinh tế số trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi cần có những thay đổi mạnh mẽ hơn về cách tiếp cận và chính sách trong thời gian tới” - ông Hiển nói.
Phân tích thêm về những hạn chế, GS,TS. Tô Trung Thành - Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, kinh tế số lõi tăng nhanh về quy mô nhưng cải thiện chậm về chất lượng trong suốt giai đoạn 2012-2025. Tỷ trọng kinh tế số lõi trong GDP tăng liên tục, song tăng trưởng chủ yếu dựa trên mở rộng sản lượng, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng và thu nhập nội địa cải thiện chậm, thiếu tính đột phá.
Mặt khác, kinh tế số lõi giữ vai trò trung tâm về quy mô nhưng chưa trở thành động lực mang tính cấu trúc của tăng trưởng. Mặc dù chiếm trên 60% giá trị kinh tế số, khu vực này chỉ tạo ra hiệu ứng lan tỏa ở mức trung bình và chưa đủ mạnh để dẫn dắt chuyển dịch mô hình tăng trưởng của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất của kinh tế số lõi trong giai đoạn 2012-2025 luôn thấp hơn mức bình quân của nền kinh tế. Đặc biệt, ngành sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin thể hiện mức độ phụ thuộc lớn vào chi phí trung gian. Điều này phản ánh việc ngành chủ yếu tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, như lắp ráp và gia công, trong khi các khâu có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu - phát triển, thiết kế công nghệ lõi và sở hữu trí tuệ vẫn chủ yếu nằm ngoài nền kinh tế trong nước.

Tạo đột phá để kinh tế số dẫn dắt tăng trưởng
Từ những kết quả và hạn chế trong phát triển kinh tế số tại Việt Nam thời gian qua, các chuyên gia nhấn mạnh rằng, mặc dù đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, song kinh tế số vẫn chưa tạo ra sự chuyển biến mang tính đột phá về chất trong mô hình tăng trưởng, đặc biệt là về năng suất và hiệu quả lan tỏa nội địa. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh và thúc đẩy chuyển đổi số sâu rộng hơn trong toàn bộ nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Đặc biệt, định hướng phát triển kinh tế số cần được nhìn nhận không chỉ là quá trình số hóa các hoạt động hiện hữu, mà là một chuyển đổi mang tính cấu trúc, trong đó công nghệ số trở thành nhân tố sản xuất cốt lõi, quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, nhóm chuyên gia Đại học Kinh tế Quốc dân đề xuất 3 khuyến nghị trọng tâm.
Thứ nhất, kinh tế số lõi cần chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ. Trọng tâm không chỉ là duy trì tỷ trọng cao mà còn phải nâng cấp chất lượng giá trị gia tăng thông qua chiến lược “Make in Vietnam”, phát triển các công nghệ lõi như bán dẫn, thiết bị 5G/6G và các nền tảng số quốc gia. Việc xây dựng hạ tầng số dùng chung (cloud, trí tuệ nhân tạo (AI), định danh số) sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm phụ thuộc vào bên ngoài.
Thứ hai, kinh tế số ngành cần được số hóa sâu vào chuỗi giá trị. Các ngành tài chính - ngân hàng, bán lẻ, logistics và nông nghiệp cần chuyển từ ứng dụng công nghệ ở bề mặt sang tái cấu trúc mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI. Trong đó, tài chính số và fintech sẽ đóng vai trò dẫn dắt phân bổ nguồn lực hiệu quả; bán lẻ và logistics nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng; nông nghiệp công nghệ cao góp phần cải thiện năng suất và giá trị xuất khẩu.
Thứ ba, quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số. Việc chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số dựa trên dữ liệu sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược, với hệ thống kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều luật quan trọng như Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Bảo vệ dữ liệu, cùng các quy định liên quan đến AI, thể hiện vai trò tiên phong trong xây dựng khung khổ pháp lý. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho rằng, sau khi các quy định được ban hành, quá trình triển khai trên thực tế vẫn gặp không ít khó khăn, thậm chí phát sinh những vướng mắc mới. Do đó, cần nâng cao chất lượng khâu thực thi chính sách để các cơ chế, quy định pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả và trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Từ góc độ cơ quan tham mưu chính sách, TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh thêm, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP - một con số rất lớn so với giai đoạn trước khi tỷ lệ này chỉ khoảng 0,43%. Điều đó cho thấy quyết tâm cao trong thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế triển khai thời gian qua cho thấy, tỷ lệ giải ngân nguồn lực này tại nhiều địa phương, ngành, lĩnh vực vẫn còn thấp. Một trong những nguyên nhân là tư duy quản lý tài chính chưa theo kịp yêu cầu đổi mới sáng tạo. Hiện nay, việc triển khai các nhiệm vụ khoa học vẫn còn nặng về thủ tục, chứng từ, gây khó khăn trong thanh toán và tổ chức thực hiện.
Thực tế này đặt ra yêu cầu cần sớm đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho khoa học - công nghệ theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù sáng tạo, đồng thời giảm bớt rào cản thủ tục để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nếu không có những điều chỉnh kịp thời, mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển sẽ khó phát huy hiệu quả như kỳ vọng./.