72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: Giá trị lịch sử và sức mạnh nội sinh của dân tộc trong kỷ nguyên mới

Chính trị - Ngày đăng : 06:15, 07/05/2026

(BKTO) - Cách đây tròn 72 năm, thế giới đã chấn động trước một kỳ tích vô tiền khoáng hậu tại thung lũng Điện Biên Phủ - nơi quân và dân Việt Nam đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp. Chiến thắng ngày 07/5/1954 không chỉ là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước, mà còn là biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhìn lại hành trình “chín năm làm một Điện Biên”, chúng ta không chỉ tự hào về quá khứ vinh quang, mà còn đúc rút những bài học quý báu về sức mạnh đại đoàn kết và tư duy chiến lược để vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
2.-chien-thang-dien-bien-phu-net-son-tu-hau-can-kinh-te-tai-chinh-20240502065846.jpg
Chiến thắng Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ảnh: ST

Từ cứ điểm “bất khả xâm phạm” đến quyết định xoay chuyển lịch sử

Sau 8 năm kháng chiến trường kỳ, thực dân Pháp lún sâu vào thế bị động và sa lầy. Để tìm kiếm một chiến thắng quân sự mang tính quyết định nhằm xoay chuyển cục diện, tháng 7/1953, thực dân Pháp triển khai Kế hoạch Nava với sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Mỹ. Mục tiêu của chúng là tập trung binh lực khổng lồ để bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo nhạy bén của Đảng, quân và dân ta đã chủ động triển khai cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, buộc địch phải phân tán lực lượng và rơi vào thế đối đầu trực diện tại Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo chiến lược tại Tây Bắc, án ngữ ngã ba các tuyến đường quan trọng nối liền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và Tây Nam Trung Quốc. Nhận thấy rõ vị trí này, thực dân Pháp đã biến nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với 40 cứ điểm, chia thành 3 phân khu phòng thủ kiên cố. Với hệ thống hỏa lực đa tầng, bãi mìn dày đặc và sự yểm trợ của 80% lực lượng không quân tại Đông Dương, các tướng tá Pháp - Mỹ tự tin tuyên bố đây là một “pháo đài bất khả xâm phạm”, một “máy nghiền thịt” sẵn sàng hủy diệt bất cứ lực lượng nào dám tấn công.

Trước một hệ thống phòng ngự đồ sộ, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những phân tích chiến lược sắc sảo. Dù địch mạnh, nhưng Điện Biên Phủ lại có nhược điểm chí tử là các cứ điểm bị chia cắt và phụ thuộc hoàn toàn vào tiếp tế đường không giữa vùng núi rừng hiểm trở. Nếu ta có thể cô lập được đường không, kẻ địch sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng kiệt quệ.

Ngày 06/12/1953, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức được ban hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho bằng được”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Chỉ huy trưởng mặt trận, mang theo trọng trách về một chiến thắng bảo đảm chắc chắn cho vận mệnh dân tộc.

Sức mạnh đại đoàn kết và bước ngoặt thay đổi phương châm tác chiến

Hưởng ứng lời kêu gọi “Tất cả cho tiền tuyến”, một cuộc huy động sức mạnh tổng lực chưa từng có đã diễn ra. Không chỉ là những đơn vị chủ lực bạt rừng, xẻ núi kéo pháo vào trận địa, mà còn là hơn 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp hiểm nguy vận chuyển lương thực, vũ khí. Hình ảnh những chiếc xe thồ vượt dốc thẳm đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của lòng dân - một thứ vũ khí mà các chuyên gia quân sự phương Tây không thể lường trước.

Ban đầu, ta chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh”, dự kiến tiêu diệt toàn bộ quân địch trong 2 đêm, 3 ngày. Thế nhưng, khi trực tiếp quan sát chiến trường và nhận thấy hệ thống phòng thủ của địch ngày càng kiên cố, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có một quyết định lịch sử vào sáng ngày 26/01/1954: Hoãn cuộc tấn công, kéo pháo ra và chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này không chỉ thể hiện bản lĩnh của người cầm quân mà còn là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Trung ương Đảng, bảo đảm giữ vững lực lượng cho cuộc đối đầu dài lâu.

Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu bền bỉ với 3 đợt tấn công ác liệt, ta đã từng bước bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm:

Đợt 1 (13/3 - 17/3): Ta mở màn bằng trận hỏa lực mãnh liệt vào cụm cứ điểm Him Lam, sau đó là Độc Lập và Bản Kéo. Cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm bị phá vỡ, hơn 2.000 quân địch bị tiêu diệt, sân bay Mường Thanh bị đe dọa trực tiếp. Đòn phủ đầu sấm sét này đã gây cho địch cú sốc nặng nề về tinh thần.

Đợt 2 (30/3 - 30/4): Đây là giai đoạn dài nhất và khốc liệt nhất. Ta tấn công vào các cao điểm phía Đông, thắt chặt vòng vây theo cách “vây lấn, tấn, diệt, phá”. Tại các điểm cao C1 và đặc biệt là A1, cuộc giằng co diễn ra từng tấc đất, hầm hào. Ta tiêu diệt sinh lực địch, cắt đứt hoàn toàn nguồn tiếp tế bằng đường không, khiến quân Pháp rơi vào tình trạng kiệt quệ và tuyệt vọng.

Đợt 3 (01/5 - 07/5): Đợt tổng công kích cuối cùng. Với sức mạnh áp đảo, ta lần lượt làm chủ các cao điểm còn lại. Chiều ngày 07/5, quân ta chiếm hầm chỉ huy, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm. Lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờ Cát, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của pháo đài “bất khả xâm phạm”.

Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam

Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng quân sự thuần túy, mà đã trở thành một danh từ riêng biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là sự kết tinh kỳ diệu của nhiều nhân tố, mà trước hết là sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trí tuệ Việt Nam được thể hiện ở khả năng dự báo chiến lược, ở sự chuyển đổi phương châm tác chiến linh hoạt và ở nghệ thuật huy động toàn dân tham gia kháng chiến.

Đặc biệt, vai trò của người đảng viên trên chiến trường là vô cùng rực rỡ. Trước lằn ranh sinh tử, các đảng viên luôn là những người tiên phong, gương mẫu, sẵn sàng lấy thân mình lấp lỗ châu mai, lấy thân mình làm giá súng, xông lên phía trước để giành độc lập. Chính tinh thần hy sinh quên mình vì nước, vì dân đã tạo nên một sức mạnh vô song mà không vũ khí hiện đại nào có thể khuất phục.

Sức mạnh ấy còn bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là tinh thần đoàn kết triệu người như một, từ người già đến trẻ nhỏ, từ đồng bằng đến miền núi đều chung một khát khao độc lập. Chính tướng Navarre cũng phải thừa nhận: “Sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong sức mạnh huyền thoại của dòng giống người Việt... tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ”. Sử gia Pháp Alain Ruscio cũng khẳng định, sức mạnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm ở chỗ ông có cả một dân tộc kề vai sát cánh.

Chiến thắng Điện Biên Phủ còn mang tầm vóc quốc tế to lớn, là tiếng chuông báo tử cho chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cầu. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”. Sau sự kiện này, ngọn lửa giải phóng dân tộc đã bùng cháy mạnh mẽ tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, làm thay đổi bộ mặt thế giới. Giáo sư Vladimir Kolotov nhận định rằng Việt Nam đã trở thành hình mẫu, nguồn cảm hứng lớn cho các quốc gia đấu tranh vì tự do.

Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua, nhưng âm hưởng của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vang vọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về tư duy độc lập, tự chủ và quyết tâm “đánh chắc thắng” vẫn còn nguyên giá trị thời đại. Thế hệ hôm nay và mai sau sẽ mãi mãi ghi nhớ và phát huy tinh thần Điện Biên Phủ, để bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam tiếp tục tỏa sáng trên trường quốc tế, đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.

ĐỨC MINH