
Nhiều vướng mắc, bất cập…
Tại Hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 6/2, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI chia sẻ, an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề thiết yếu và có tính chiến lược hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, đồng thời tác động quan trọng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam và khả năng hội nhập quốc tế. Chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn tác động sâu rộng đến toàn bộ chuỗi sản xuất - kinh doanh - tiêu dùng của nền kinh tế.
Cũng theo ông Tuấn, trong thời gian vừa qua, việc Chính phủ ban hành Nghị định 46/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (Nghị định 46) và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm (Nghị quyết 66.13) thể hiện nỗ lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hướng đến việc siết chặt các lỗ hổng, tăng cường trách nhiệm trong sản xuất và phân phối thực phẩm.
Tuy nhiên, quá trình triển khai các quy định mới trong hơn một tuần vừa qua đã xuất hiện những khó khăn nhất định, từ thời gian chuyển tiếp ngắn, quy trình kiểm tra phức tạp hơn, cho đến việc thiếu các hướng dẫn cụ thể trong thực thi. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp chưa kịp hiểu rõ nội dung thay đổi giữa Nghị định 46, Nghị quyết 66.13 so với Nghị định 15/2018/NĐ-CP và chưa đánh giá hết được các chi phí bổ sung, các yêu cầu kỹ thuật mới sẽ tác động thế nào đến hoạt động sản xuất, nhập khẩu, lưu thông hàng hóa.
Phân tích cụ thể các bất cập của Nghị định 46 đối với hoạt động nhập khẩu thực phẩm, ông Nguyễn Hồng Uy - Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cho biết, quy định mới làm gia tăng mạnh mức độ và tần suất kiểm tra, trong khi hiệu quả nâng cao an toàn thực phẩm chưa được chứng minh tương xứng.
Cụ thể, thay vì chủ yếu kiểm tra hồ sơ như trước, Nghị định 46 mở rộng sang hình thức vừa kiểm hồ sơ vừa kiểm nghiệm mẫu, đồng thời mở rộng phạm vi kiểm tra sang cả nguyên liệu, phụ gia và bao bì dùng cho sản xuất nội bộ – những đối tượng trước đây được miễn kiểm tra. Quy trình kiểm tra cũng trở nên phức tạp hơn khi chuyển từ mô hình hai cấp sang ba cấp, trong khi số lượng cơ sở kiểm nghiệm đủ điều kiện lại có xu hướng thu hẹp. Theo EuroCham, tổng hợp các yếu tố này khiến thời gian thông quan kéo dài đáng kể, làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Đối với thực phẩm tươi sống như rau quả, quy trình kiểm nghiệm kéo dài từ 9 - 10 ngày gần như không khả thi, bởi đặc thù bảo quản ngắn, dễ hư hỏng. Nhiều trường hợp, khi hoàn tất kiểm nghiệm thì hàng hóa đã không còn đảm bảo giá trị thương mại.
Đáng chú ý, đại diện EuroCham cho rằng việc siết chặt kiểm tra nhập khẩu chưa cho thấy mối liên hệ rõ ràng với việc nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm. Thực tế thời gian qua cho thấy, các vụ việc hàng giả, hàng kém chất lượng bị phát hiện chủ yếu phát sinh từ khâu sản xuất và lưu thông trong nước, chứ không phải từ hàng nhập khẩu. Điều này đặt ra câu hỏi về trọng tâm và tính hợp lý của chính sách khi nguồn lực kiểm soát lại dồn mạnh vào khâu nhập khẩu.
Một bất cập khác được ông Bùi Quang Tuấn – Ban Pháp chế Tiểu ban Thực phẩm và đồ uống, Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) phản ánh là tình trạng chồng chéo trong yêu cầu về giấy phép. Theo Nghị định 46, ngay cả các doanh nghiệp đã áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng được quốc tế thừa nhận như HACCP, ISO 22000, FSSC 22000, GMP vẫn phải xin thêm Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
Theo đại diện AmCham, đối với hàng nhập khẩu, yêu cầu này thậm chí trở thành rào cản kỹ thuật, bởi doanh nghiệp nước ngoài không thể được cấp loại giấy chứng nhận theo pháp luật Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp không thể hoàn thiện hồ sơ công bố hợp quy, kéo dài thời gian thông quan và phát sinh chi phí, trong khi chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh Nghị định 46, Nghị quyết 66.13 cũng bộc lộ nhiều vấn đề lớn trong thực tiễn. Các hiệp hội cho rằng thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm được thiết kế quá phức tạp, với nội dung hồ sơ tăng gần 10 lần và thời gian thẩm định kéo dài từ 7 ngày lên tới 90 ngày, trong khi bản chất vẫn là tiền kiểm hồ sơ.
Đặc biệt, quy định yêu cầu toàn bộ sản phẩm đã được cấp số đăng ký trước đây phải đăng ký lại, đồng thời hủy bỏ các hồ sơ đang trong quá trình thẩm định, khiến nỗ lực tuân thủ của doanh nghiệp trong suốt nhiều năm gần như không còn giá trị. Theo các hiệp hội, hàng chục nghìn sản phẩm sẽ phải đăng ký lại trong khung thời gian 12 - 24 tháng, tạo nguy cơ quá tải nghiêm trọng cho hệ thống quản lý nhà nước và gián đoạn lưu thông hàng hóa trên thị trường.

Cần hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế
Với những bất cập, vướng mắc phát sinh trên thực tế sau hơn một tuần triển khai Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13, ngày 4/2 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đến hết ngày 15/4/2026.
Ông Đậu Anh Tuấn cho biết, cộng đồng doanh nghiệp bày tỏ sự vui mừng và đánh giá cao việc Chính phủ ban hành Nghị quyết này. Đây là một quyết định kịp thời, đã trực tiếp giúp “giải cứu” hàng trăm nghìn tấn thực phẩm bao gói sẵn, nguyên liệu, bao bì, phụ gia thực phẩm nhập khẩu để sản xuất đang bị ùn ứ tại các cảng và cửa khẩu. Khảo sát sơ bộ 4 hiệp hội đã có khoảng 123.400 tấn hàng hoá bị ùn ứ. Cùng với việc giải tỏa gần 300.000 tấn nông sản, thực phẩm tươi sống trước đó, quyết định này giúp doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại khổng lồ về chi phí lưu kho bãi, tránh nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng ngay trong mùa cao điểm sản xuất và kinh doanh phục vụ Tết Nguyên đán.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp, hiệp hội cho rằng việc Chính phủ tạm dừng hiệu lực thi hành Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 mới chỉ là giải pháp tình thế. Nếu sau ngày 15/4, các quy định này được áp dụng trở lại mà không có điều chỉnh căn cơ, nguy cơ ách tắc, quá tải và làm gián đoạn sản xuất, kinh doanh rất có thể sẽ lặp lại. Do đó, vấn đề cốt lõi đặt ra là cần một cách tiếp cận chính sách căn cơ, ổn định và phù hợp hơn với thực tiễn cũng như thông lệ quốc tế trong quản lý an toàn thực phẩm.
Theo đó, khuyến nghị được đại diện EuroCham nhấn mạnh là cần xem xét sửa đổi Luật An toàn thực phẩm trước, rồi mới ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành. Theo EuroCham, Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đều có thời gian hiệu lực rất ngắn, trong khi phạm vi điều chỉnh rộng và tác động sâu tới toàn bộ ngành thực phẩm. Việc ban hành các văn bản dưới luật với nhiều thủ tục mới, nhưng thiếu nền tảng pháp lý ổn định từ luật gốc, dễ dẫn tới tình trạng chính sách chưa kịp đi vào cuộc sống đã phải sửa đổi hoặc thay thế.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, EuroCham đề xuất tiếp tục thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP, đồng thời tăng cường công tác hậu kiểm để xử lý các lỗ hổng đã được nhận diện trong thực tiễn. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm mục tiêu an toàn thực phẩm, vừa tránh gây xáo trộn lớn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, đại diện AmCham kiến nghị cho phép doanh nghiệp sử dụng các chứng nhận quốc tế để thay thế Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Việc công nhận các chuẩn mực quốc tế không chỉ giúp giảm trùng lặp thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp, mà còn tránh phát sinh các rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu, bảo đảm sự tương thích với thông lệ và cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ góc độ tổng thể, VCCI và các hiệp hội ngành hàng cho rằng trọng tâm quản lý cần chuyển mạnh sang quản lý rủi ro và hậu kiểm, tập trung vào các sản phẩm, doanh nghiệp và khâu có nguy cơ cao, thay vì tiền kiểm dàn trải. Chính sách cũng cần chuyển từ mô hình “đăng ký - kiểm nghiệm từng sản phẩm” sang quản lý theo hệ thống và theo chuỗi giá trị thực phẩm, lấy các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO, GMP làm nền tảng.
Bên cạnh đó, nhiều hiệp hội kiến nghị điều chỉnh cách tiếp cận đối với thủ tục đăng ký sản phẩm, cho phép bổ sung, cập nhật hồ sơ thay vì đăng ký lại toàn bộ, đồng thời kéo dài thời gian chuyển tiếp để tránh quá tải. Việc nâng cao năng lực thực thi ở địa phương và đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu cũng được coi là điều kiện tiên quyết để cải cách chính sách đi vào thực chất./.
