
Khát vọng kiến tạo từ những nghị quyết chiến lược
Luật Thuế TNDN 2025 ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực hiện thực hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, với tinh thần lấy DN làm trung tâm, giảm bớt rào cản để lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Điểm ưu việt mang tính nhân văn là cơ chế thuế suất phân hóa. Thay vì áp dụng mức 20% đại trà, các DN siêu nhỏ có doanh thu dưới 3 tỷ đồng chỉ phải nộp 15% và mức 17% áp dụng cho DN nhỏ có doanh thu đến 50 tỷ đồng. Đây là sự chuyển dịch tư duy từ thu thuế sang nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình DN, hướng tới mục tiêu 3 triệu DN vào năm 2045, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và nhân văn.
Thực hiện chủ trương tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật số 67 đã xác lập những ưu đãi đặc biệt cho lĩnh vực công nghệ số. Bên cạnh đó, việc miễn, giảm thuế đối với thu nhập từ giảm phát thải, trung hòa carbon, trái phiếu xanh và siêu khấu trừ 200% chi phí R&D (nghiên cứu và phát triển) được xem là “đòn bẩy” để Việt Nam tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp mũi nhọn. Sự thay đổi này là “luồng sinh khí mới” cho các startup công nghệ và các dự án R&D - vốn cần thời gian đầu tư dài hạn trước khi mang lại hiệu quả.
Theo Luật số 67, danh mục chi phí được trừ đã được mở rộng theo hướng thực tiễn hơn, đặc biệt bổ sung các “chi phí đi trước doanh thu” như chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí giới thiệu sản phẩm trước khi bán hàng, chi phí tiền thuê đất khi dự án chưa đi vào hoạt động… Sự mở rộng này được cộng đồng DN đánh giá cao.
Luật số 67 cũng đã đưa “nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số” vào khái niệm cơ sở thường trú, qua đó khẳng định quyền đánh thuế của Việt Nam đối với mọi thu nhập có nguồn gốc tại nước ta mà không cần hiện diện vật lý. Bước đi này không chỉ giúp chống thất thu từ các tập đoàn đa quốc gia mà còn tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các DN số trong nước.
Những “điểm mờ” trong quy định
Tuy nhiên, quá trình thực thi pháp luật vẫn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc. Một trong những vấn đề DN đang phải đối mặt là tình trạng “phân mảnh pháp luật”. Để áp dụng một khoản miễn, giảm thuế, kế toán phải tham chiếu đồng thời nhiều văn bản khác nhau như Luật Khoa học - công nghệ, Luật Chuyển đổi số và các văn bản dưới luật. Việc dẫn chiếu nhằm bảo đảm tính thống nhất, nhưng đồng thời lại khiến người áp dụng phải tự tìm hiểu trong khi hệ thống tham chiếu phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ áp dụng sai và làm gia tăng chi phí tuân thủ.
Bên cạnh đó, việc dẫn chiếu sang các văn bản pháp quy khác cùng với những hướng dẫn “thực hiện theo quy định của pháp luật” khiến kế toán rơi vào trạng thái “không biết thế nào là đủ” để xây dựng hồ sơ phòng thủ vững chắc trước các đợt thanh tra, kiểm tra. Thực tế cho thấy, cách hiểu và áp dụng quy định có thể khác nhau giữa các cán bộ thuế và giữa cơ quan thuế với DN.
Đáng lưu ý, cơ chế chuyển tiếp cho kỳ tính thuế 2025 được đánh giá là phức tạp, tồn tại trạng thái “lai” giữa quy định cũ và mới. Chẳng hạn, Thông tư số 20/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNDN và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP của Chính phủ yêu cầu một số khoản chi tiếp tục thực hiện theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC. Tuy nhiên, Nghị định số 320/2025/NĐ-CP lại cho phép lựa chọn các mốc hiệu lực khác nhau (01/01/2025, 01/10/2025 hoặc 15/12/2025) và chưa làm rõ việc áp dụng có thống nhất cho tất cả các khoản chi hay không, dẫn đến cách hiểu và vận dụng chưa đồng nhất.
Một nút thắt khác là khi cơ quan thuế hướng dẫn không loại trừ tiền lương khỏi phạm vi ngưỡng 5 triệu đồng - đồng nghĩa với việc mọi khoản chi trả cho người lao động trên 5 triệu đồng/lần đều phải thực hiện qua ngân hàng. Tại các vùng sâu, vùng xa, quy định này được đánh giá là chưa phù hợp thực tiễn, có thể dẫn đến rủi ro DN bị loại chi phí lương, làm giảm động lực đầu tư vào các địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Tạo đòn bẩy cho phát triển
Để hệ thống thuế thực sự trở thành đòn bẩy phát triển, có thể xem xét một số giải pháp:
Thứ nhất - xem xét ban hành “Danh mục hoạt động đổi mới sáng tạo mặc định” - các hoạt động công nghệ được mặc định thừa nhận. DN thuộc danh mục này không cần trải qua các bước thẩm định kỹ thuật phức tạp để được hưởng ưu đãi, qua đó giảm thiểu rủi ro hồ sơ.
Thứ hai - thử nghiệm cơ chế “xác nhận trước”. Đối với các dự án công nghệ trọng điểm, cần có cơ chế để DN gửi hồ sơ và nhận được xác nhận ưu đãi từ cơ quan thuế ngay từ giai đoạn đầu tư, giúp DN yên tâm triển khai và giảm thiểu tranh chấp hậu kiểm.
Thứ ba - làm rõ bằng phụ lục trong nghị định, thông tư các khái niệm đang phải dẫn chiếu sang văn bản khác; quy định cụ thể điều khoản áp dụng và nguyên tắc cập nhật khi văn bản dẫn chiếu thay đổi, qua đó giảm áp lực tra cứu cho người nộp thuế.
Thứ tư - thống nhất cơ chế chuyển tiếp, có hướng dẫn rõ ràng, mang tính khẳng định hơn trong việc DN lựa chọn áp dụng quy định cho kỳ tính thuế 2025, nhằm đơn giản hóa công tác quản trị.
Thứ năm - linh hoạt ngưỡng 5 triệu đồng; theo đó, cần cân nhắc danh mục loại trừ đối với tiền lương trả cho lao động tại vùng đặc biệt khó khăn.
Có thể khẳng định, Luật Thuế TNDN 2025 là minh chứng cho quyết tâm đổi mới của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào đời sống, tinh thần kiến tạo cần được thẩm thấu xuyên suốt từ văn bản đến thực thi. Một hệ thống thuế rõ ràng, giảm thiểu gánh nặng hồ sơ sẽ là cam kết mạnh mẽ nhất để DN yên tâm cống hiến, đưa Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu./.
