Thưa ông, kinh tế số được Đảng, Nhà nước xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, tỷ lệ chi ngân sách cho chuyển đổi số và hạ tầng công nghệ vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

Với giá trị tăng thêm đạt khoảng 72,1 tỷ USD, tăng trưởng 14,6% và đóng góp hơn 14% vào GDP, kinh tế số khẳng định là một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2025. Nhìn vào kết quả này, nhất là với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới thì mặt bằng đầu tư công cho khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) trong nhiều năm qua rõ ràng chưa tương xứng.
Tổng chi cho các lĩnh vực này còn rất khiêm tốn. Tỷ lệ chi ngân sách cho KHCN trong năm 2021 là 1,37%, năm 2022 là 1,72%, năm 2023 là 1,39% và năm 2024 là 1,97%, trong khi Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia đặt mục tiêu phải bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho lĩnh vực này. Nói cách khác, chúng ta đã xác định rất đúng vai trò của kinh tế số, nhưng mức đầu tư công trong giai đoạn trước chưa theo kịp tầm nhìn chiến lược đó.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh, vấn đề không chỉ là “thiếu tiền”, mà còn là cách phân bổ và sử dụng. Nếu tiếp tục đầu tư theo kiểu chia nhỏ, dàn trải, mỗi nơi xây một hệ thống, mỗi ngành mua một nền tảng, thiếu kết nối dữ liệu, thiếu kinh phí vận hành, bảo trì và an toàn thông tin, thì dù tăng ngân sách vẫn khó tạo ra năng suất mới.

Điểm nổi bật của Nghị quyết 57 là chuyển tư duy từ đầu tư manh mún sang đầu tư nền tảng, dữ liệu, hạ tầng dùng chung; cho phép ngân sách trung ương đầu tư, mua sắm, thuê, duy trì, vận hành các nền tảng số quy mô quốc gia, quy mô vùng; cho phép chỉ định thầu một số gói thầu CĐS trong giai đoạn cần tăng tốc. Đây là hướng đi rất quan trọng, vì CĐS chỉ hiệu quả khi có quy mô, tính liên thông và tiêu chuẩn thống nhất.
Chúng ta phải coi chi cho CĐS và hạ tầng công nghệ là chi đầu tư phát triển, không phải chi tiêu hành chính thuần túy. Đầu tư cho dữ liệu, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu, hạ tầng AI, 5G, an ninh mạng hay nền tảng số quốc gia chính là đầu tư cho tăng năng suất lao động, giảm chi phí tuân thủ, mở rộng không gian thị trường và nâng chất lượng quản trị quốc gia.
Việc năm 2025 bắt đầu bố trí đủ 3% ngân sách cho KHCN, ĐMST và CĐS là một bước tiến đúng hướng. Vấn đề là phải bảo đảm tính ổn định, có danh mục ưu tiên chiến lược, đo hiệu quả bằng kết quả đầu ra chứ không chỉ bằng tỷ lệ giải ngân.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, thiếu hụt nhân lực số đang là “điểm nghẽn” trong phát triển kinh tế số. Theo ông, cần cơ chế gì để giải bài toán này?
Thiếu nhân lực là điểm nghẽn khó nhất. Báo cáo về AI cho thấy, hơn 60% doanh nghiệp (DN) từng không tuyển được lao động có đúng kỹ năng, gần 60% DN tự đánh giá chỉ sẵn sàng ở mức vừa phải trở xuống để ứng dụng AI.
Trong lĩnh vực an ninh mạng, nhu cầu nhân lực trong vài năm tới được ước tính khoảng 700.000 người, nhưng hiện mới đáp ứng được 50-60%. Trong khi đó, năm 2025 Việt Nam vẫn phải đối mặt với khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng và hơn một nửa cơ quan, DN ghi nhận tổn hại. Điều đó cho thấy nhân lực số không chỉ là câu chuyện việc làm, mà là vấn đề năng lực cạnh tranh và an ninh quốc gia.
Vì vậy, cơ chế đầu tiên phải làm ngay là “đặt hàng nhân lực chiến lược” ở tầm quốc gia. Nhà nước không chỉ hỗ trợ đào tạo theo đầu vào, mà phải đặt hàng theo đầu ra: Bao nhiêu kỹ sư AI, bao nhiêu chuyên gia dữ liệu, bao nhiêu chuyên gia an ninh mạng, bao nhiêu kiến trúc sư hệ thống số cho từng giai đoạn, từng chương trình trọng điểm, từng vùng động lực.
Cơ chế thứ hai là phải có chính sách nhân tài mang tính cạnh tranh quốc tế. Nghị quyết 57 đã nêu rõ yêu cầu có cơ chế đặc biệt về quốc tịch, nhà ở, thu nhập, môi trường làm việc để thu hút và giữ chân nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 249/2025/NĐ-CP về thu hút chuyên gia và Nghị định số 231/2025/NĐ-CP về tuyển chọn, sử dụng tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng trong KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Đây là nền tảng rất quan trọng.
Tuy nhiên, cần đi xa hơn một bước: Cho phép thuê chuyên gia theo nhiệm vụ, theo dự án, theo chuẩn thị trường; trao quyền cho cơ quan chủ trì được quyết định chế độ đãi ngộ gắn với kết quả; đồng thời mở mạnh cánh cửa cho chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các bài toán lớn của đất nước.
Phát triển kinh tế số không thể chỉ dựa vào biên chế; phải dựa vào một thị trường nhân lực số hiện đại, linh hoạt và đủ hấp dẫn để người giỏi muốn cống hiến.
Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư từ ngân sách có hạn, nhiều ý kiến đề xuất việc thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Theo ông, cần có cơ chế gì để khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa khu vực tư tham gia phát triển hạ tầng số?
Tôi ủng hộ phải đẩy mạnh hợp tác công tư, nhưng phải hiểu đúng bản chất của PPP trong hạ tầng số. Khác với các lĩnh vực khác, với hạ tầng số, công nghệ thay đổi rất nhanh, rủi ro lạc hậu lớn hơn, yêu cầu về dữ liệu, an ninh mạng, chủ quyền số cũng nhạy cảm hơn nhiều.
Vì vậy, PPP trong lĩnh vực này không thể là “Nhà nước thiếu tiền nên giao hết cho doanh nghiệp”, mà phải là mô hình Nhà nước dẫn dắt tiêu chuẩn, pháp lý, bảo đảm an ninh, tạo đầu ra thị trường; khu vực tư nhân góp vốn, góp công nghệ, góp năng lực quản trị và tốc độ triển khai.
Luật PPP đã cho phép áp dụng trong lĩnh vực hạ tầng công nghệ thông tin. Nghị quyết 57 tiếp tục yêu cầu có cơ chế hợp tác công tư để phát triển hạ tầng số hiện đại, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ yếu, kiến tạo và dẫn dắt. Nghị định số 180/2025/NĐ-CP đã mở rộng hợp tác công tư sang hạ tầng số, dịch vụ số, dữ liệu, cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ số và công nghệ chiến lược; cho phép áp dụng nhiều loại hợp đồng, mở các mô hình đầu tư công - quản trị tư, đầu tư tư - sử dụng công, lãnh đạo công - quản trị tư.
Đối với dự án PPP KHCN và CĐS, Nhà nước có thể tham gia tới 70% tổng mức đầu tư. Trong 3 năm đầu, nhà đầu tư được chia sẻ 100% phần giảm doanh thu nếu doanh thu thực tế thấp hơn phương án tài chính. Nhà đầu tư được ưu đãi thuế, trong đó chi R&D có thể được tính vào chi phí được trừ bằng 200% chi phí thực tế; các bên được thỏa thuận quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, dữ liệu và phân chia lợi nhuận. Đây là bộ công cụ rất mạnh để dự án số trở nên đủ hấp dẫn cho khu vực tư nhân bỏ vốn lớn, dài hạn.
Ngoài các chính sách trên, theo tôi, giai đoạn tới cần làm thêm ba việc. Thứ nhất, phải hình thành ngay danh mục dự án PPP quốc gia đủ lớn và rõ đầu ra, tập trung vào trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây phục vụ Chính phủ số, hạ tầng tính toán cho AI, cáp quang biển, trạm trung chuyển dữ liệu, nền tảng số dùng chung, hạ tầng trung lập như cột, ống, trạm và các nền tảng an ninh mạng trọng yếu.
Thứ hai, Nhà nước cần đóng vai trò “khách hàng mỏ neo”, cam kết thuê dịch vụ dài hạn những hạ tầng số thiết yếu để giảm rủi ro cầu cho nhà đầu tư.
Thứ ba, cần áp dụng nguyên tắc tiếp cận mở, cấp phép nhanh, một đầu mối, cùng với phân bổ rủi ro minh bạch, thanh toán theo mức độ sẵn sàng cung cấp dịch vụ và hiệu quả thực tế.
Thực tế triển khai 5G thời gian qua cho thấy, chỉ trong năm 2025, phủ sóng 5G đã đạt trên 90% dân số. Đó là minh chứng thuyết phục nhất rằng nếu thể chế đủ tốt, khu vực tư nhân sẽ trở thành lực lượng tăng tốc cho hạ tầng số quốc gia.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
