
Kinh tế số đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế
Những năm qua, KTS đã vươn lên trở thành động lực tăng trưởng then chốt, gắn liền với tiến trình chuyển đổi số quốc gia và nhịp độ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2021-2025, KTS ghi nhận tốc độ phát triển nhanh và có sự lan tỏa tương đối đồng đều trên nhiều lĩnh vực. Các cấu phần như thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ trực tuyến, logistics thông minh cùng các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu đều bứt tốc mạnh mẽ.
Xét về mức độ đóng góp, tỷ trọng giá trị tăng thêm của KTS trong GDP liên tục cải thiện, đi từ mức 12,87% (năm 2021) lên 14,02% (năm 2025). Tính trung bình cả giai đoạn 2021-2025, con số này đạt khoảng 13,2%; trong đó, ngành KTS lõi đóng góp 8,13% và phần số hóa các ngành khác đóng góp 5,05%. Đáng chú ý, trong năm 2025, tỷ trọng 14,02% GDP của KTS tương đương quy mô khoảng 72,1 tỷ USD, cao gấp 1,64 lần so với năm 2020 (đạt 43,8 tỷ USD) và gấp 1,5 lần mức của năm 2021 (đạt 53 tỷ USD). Nếu tính theo giá hiện hành, tốc độ tăng quy mô giá trị tăng thêm của KTS bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 12,1%. Xét theo giá so sánh, tốc độ tăng trưởng KTS năm 2025 ước đạt khoảng 11,8% so với năm 2024; bình quân toàn giai đoạn 2021-2025 tăng 9,8%.
Nhìn nhận về các chỉ số này, Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương đánh giá, KTS không chỉ mở rộng nhanh chóng về quy mô mà còn ngày càng có những đóng góp thực chất vào tăng trưởng kinh tế, giúp nâng cao năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia. Thành quả này phản ánh cam kết và quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp (DN) và người dân trong công cuộc triển khai chuyển đổi số, phát triển KTS và xã hội số, hoàn toàn phù hợp với tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Tuy nhiên, đằng sau những điểm sáng, bức tranh KTS Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế và khoảng trống đáng lưu tâm. Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, KTS nước ta hiện chủ yếu mới dừng ở việc đưa các hoạt động kinh tế truyền thống lên môi trường mạng, trong khi mức độ đổi mới sáng tạo dựa trên các công nghệ lõi lại hạn chế. Dù tỷ trọng đóng góp vào GDP tăng nhanh, song giá trị gia tăng nội địa mang lại chưa tương xứng; nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào nền tảng số xuyên biên giới, và nhiều khâu mang lại giá trị cao trong chuỗi giá trị số vẫn nằm ngoài khả năng làm chủ của DN trong nước.
Dưới góc độ thống kê và pháp lý, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Trưởng Ban Hệ thống tài khoản quốc gia (Cục Thống kê) - đã chỉ ra một điểm nghẽn lớn: Khung pháp lý cho phát triển KTS dù được cải thiện đáng kể trong những năm qua nhưng vẫn chưa theo kịp sự tiến hóa của các mô hình kinh doanh mới như nền tảng số, kinh tế dữ liệu hay kinh tế chia sẻ. Các quy định liên quan đến dữ liệu, chia sẻ và bảo mật dữ liệu cá nhân đang trong quá trình hoàn thiện, gây cản trở sự phát triển KTS. Bên cạnh đó, việc khai thác giá trị dữ liệu cũng tồn tại nhiều khoảng trống. Dù dữ liệu được định vị là trụ cột, nguồn lực quan trọng, nhưng sự kết nối, chia sẻ giữa Nhà nước - DN - xã hội vẫn còn rất yếu. Thêm vào đó, nguồn nhân lực số chất lượng cao vẫn là nút thắt lớn. Lực lượng nhân sự công nghệ thông tin tăng nhanh về số lượng, nhưng các chuyên gia sâu về khoa học dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ số… lại đang thiếu hụt trầm trọng, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Kiến tạo nền tảng để kinh tế số dẫn dắt tăng trưởng
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, các chuyên gia đánh giá KTS tiếp tục được định vị là một trong những trụ cột quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần các nghị quyết của Đảng. Không chỉ là xu hướng tất yếu, KTS còn mở ra không gian phát triển mới dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải chuyển mạnh từ việc “số hóa” sang “tạo giá trị số”; tức là không chỉ ứng dụng công nghệ vào các mô hình cũ mà phải hình thành các mô hình kinh doanh mới, ngành nghề mới dựa trên công nghệ lõi, chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và chiều sâu phát triển.
Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030, quy mô KTS đạt tối thiểu 30% GDP và vươn tới mức 50% GDP vào năm 2045.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, giới chuyên môn cho rằng, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và khung pháp lý cho KTS theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình kinh doanh số dựa trên nền tảng, dữ liệu và công nghệ lõi. Việc hình thành các hệ sinh thái số theo ngành, lĩnh vực, gắn kết DN công nghệ với DN sản xuất - dịch vụ cũng cần được đẩy mạnh để lan tỏa giá trị của KTS.
Một trụ cột quan trọng khác, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, là phải phát triển mạnh DN số, đặc biệt là các DN công nghệ trong nước. DN công nghệ cần giữ vai trò dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi; trên nền tảng đó không chỉ đáp ứng thị trường trong nước mà còn tạo ra sản phẩm có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ở tiến trình này, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua việc hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng; đồng thời phát triển thị trường số nội địa để tạo “sân chơi” cho DN Việt trưởng thành trong nước, từng bước vươn ra quốc tế và hình thành các tập đoàn công nghệ đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Cùng với đó, các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu tập trung phát triển hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu. Việt Nam cần đẩy nhanh phủ sóng 5G, mở rộng mạng cáp quang, nâng cấp các trung tâm dữ liệu đạt chuẩn quốc tế và đặc biệt chú trọng xây dựng trục dữ liệu quốc gia với cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư hiệu quả. Song song với đó, cần tăng cường cơ chế bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, bởi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng niềm tin số và thúc đẩy KTS phát triển lành mạnh, bền vững.
Đặc biệt, nguồn nhân lực số là yếu tố quyết định thành công của quá trình phát triển KTS. Nếu không có nguồn nhân lực phù hợp, việc đầu tư vào hạ tầng và công nghệ sẽ khó mang lại hiệu quả. Do đó, ưu tiên hiện nay là phổ cập kỹ năng số cơ bản cho lực lượng lao động, đồng thời đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ phần mềm… Việc tận dụng triệt để những cơ hội từ KTS, gắn với đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ sẽ là chìa khóa để Việt Nam nâng cao vị thế, hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới./.
