
Hạn chế đầu cơ, găm giữ vàng là cần thiết
Với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Trong khi đó, theo Hội đồng Vàng Thế giới, người dân Việt Nam hiện nắm giữ khoảng 400-500 tấn vàng, tương đương 35-40 tỷ USD, chiếm gần 8% GDP. Mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ trung bình khoảng 55 tấn vàng, thuộc nhóm quốc gia có mức tiêu thụ vàng cao trong khu vực. Tuy nhiên, phần lớn lượng vàng này vẫn “nằm yên trong két”, chưa được chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế. Nếu số tài sản này được chuyển hóa thành tiền mặt và đưa vào hệ thống ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán, đây sẽ trở thành nguồn vốn cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo việc làm.
Những tháng đầu năm 2026, cùng với xu hướng thế giới, giá vàng trong nước diễn biến phức tạp dưới tác động của xung đột địa chính trị, giá dầu và chính sách tiền tệ toàn cầu. Dù có những nhịp điều chỉnh, vàng vẫn duy trì ở mức cao, tiếp tục củng cố vai trò là “kênh trú ẩn” trong tâm lý nhà đầu tư.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc gia tăng đầu cơ và tích trữ vàng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là áp lực lên tỷ giá và điều hành chính sách tiền tệ. Khi nhu cầu vàng tăng, nhu cầu nhập khẩu cũng tăng theo, gây sức ép lên tỷ giá, buộc cơ quan quản lý phải can thiệp, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính.
Ở góc độ kinh tế vĩ mô, PGS,TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính, Trường Đại học Đại Nam - chỉ rõ: Khác với đầu tư sản xuất hay tài chính, hoạt động tích trữ vàng không tạo ra của cải mới mà chỉ phản ánh kỳ vọng và tâm lý thị trường. Việc tích trữ vàng quy mô lớn trong dân cư vì thế không đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể làm phân tán nguồn lực khỏi các lĩnh vực sản xuất.
Các chuyên gia cũng cảnh báo, tâm lý “đu đỉnh” theo đám đông có thể khiến nhà đầu tư cá nhân chịu thiệt hại lớn khi giá vàng đảo chiều. Vì vậy, việc hạn chế đầu cơ và găm giữ vàng không chỉ phục vụ mục tiêu ổn định vĩ mô mà còn giúp giảm rủi ro cho chính người dân.
Làm việc với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 211 về xây dựng cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng với lộ trình phù hợp thực tiễn.
Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh: “Vàng là tài sản người dân được quyền nắm giữ nhưng Nhà nước không khuyến khích vì không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế; do đó, chúng ta phải hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và đầu cơ vàng”.
Nếu kinh tế vĩ mô có nền tảng vững chắc, hệ thống pháp lý công khai, minh bạch, dễ dự báo, niềm tin của người dân và doanh nghiệp sẽ được củng cố. Khi đó, xu hướng nắm giữ các tài sản mang tính phòng thủ sẽ giảm; thay vào đó, dòng tiền có thể được chuyển sang sản xuất, kinh doanh hoặc gửi vào hệ thống ngân hàng.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng
Khơi thông nguồn lực vàng trong dân
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, nhiều chuyên gia cho rằng việc hạn chế tâm lý găm giữ và đầu cơ vàng không thể dựa vào các biện pháp hành chính cứng nhắc mà cần xuất phát từ phát triển thị trường và củng cố niềm tin.
TS. Hồ Quốc Tuấn - Giảng viên cao cấp Đại học Bristol (Anh) - khuyến nghị xây dựng một hệ sinh thái tài chính minh bạch, đa dạng và hiệu quả để tạo ra các “tài sản thay thế” đủ sức cạnh tranh với vàng. Khi có nhiều kênh đầu tư an toàn và sinh lời hấp dẫn, dòng tiền sẽ tự dịch chuyển mà không cần đến biện pháp can thiệp hành chính.
PGS,TS. Đặng Ngọc Đức cho rằng gốc rễ của tình trạng “vàng hóa” nằm ở chất lượng môi trường đầu tư. Để thay đổi thói quen tích trữ vàng, quan trọng nhất là tạo ra những lựa chọn đầu tư đủ an toàn và hấp dẫn để thu hút dòng tiền trong dân. Điều này đòi hỏi thúc đẩy thị trường tài chính phát triển theo hướng minh bạch, đa dạng hóa sản phẩm và giảm thiểu rủi ro pháp lý, rủi ro kinh tế. Khi người dân và doanh nghiệp yên tâm với các kênh như cổ phiếu, trái phiếu hoặc đầu tư sản xuất - kinh doanh, họ sẽ chủ động điều chỉnh phân bổ tài sản.
Một giải pháp đáng chú ý khác, theo đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình, là phát triển các sản phẩm “tài chính hóa” vàng như chứng chỉ vàng, quỹ đầu tư vàng hay trái phiếu vàng. Những công cụ này cho phép người dân hưởng lợi từ biến động giá mà không cần nắm giữ vật chất, qua đó đưa vàng vào lưu thông trong hệ thống tài chính, biến nguồn vốn tĩnh thành vốn động cho nền kinh tế.
Ông cũng đề xuất sớm thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia, cho phép người dân gửi vàng và nhận chứng chỉ điện tử để giao dịch. Giải pháp này giúp tăng tính thanh khoản, chuyển vàng từ dạng tài sản vật chất sang tài sản tài chính.
Trong kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đề xuất cho phép doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận để sản xuất.
Liên quan đến đề xuất này, TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính, ngân hàng - nhận định việc cho phép doanh nghiệp vay vàng có thể giúp tăng nguồn cung, giảm phụ thuộc nhập khẩu, hạ chi phí đầu vào và thúc đẩy ngành chế tác trong nước. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rủi ro về thanh khoản và biến động giá; nếu không kiểm soát chặt chẽ, hoạt động này có thể bị biến tướng thành huy động vốn trá hình, làm gia tăng rủi ro và thậm chí tái kích hoạt tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách cũng đóng vai trò then chốt trong việc củng cố niềm tin vào môi trường kinh tế, khuyến khích người dân chuyển đổi vàng thành vốn đầu tư, từ đó giảm nhu cầu tích trữ tài sản mang tính phòng thủ.
Bài toán hạn chế đầu cơ và găm giữ vàng đòi hỏi một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển thị trường tài chính và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư. Khi các yếu tố này được đảm bảo, nguồn lực vàng trong dân sẽ từng bước được khơi thông, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững./.
