
Nền kinh tế thiếu vốn trung và dài hạn
Theo các chuyên gia, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần đồng thời bảo đảm quy mô vốn đầu tư lớn và nâng cao rõ rệt hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn tại Việt Nam còn thấp, trong khi thị trường vốn vẫn chưa đủ mạnh để trở thành kênh huy động vốn chính yếu cho doanh nghiệp. Hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, với tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Điều này tạo áp lực không nhỏ lên hệ thống tài chính, nhất là khi nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng gia tăng.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Như So (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) chỉ rõ, hệ thống tài chính đang đối mặt với nghịch lý kép: Tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 146% nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn trung và dài hạn. Nguyên nhân cốt lõi của nghịch lý này là do sự lệch pha trong cấu trúc nguồn vốn khi phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng để tài trợ cho các nhu cầu dài hạn.
“Việc lấy ngắn nuôi dài không chỉ tạo áp lực cho thanh khoản mà còn khiến dòng vốn không “chảy” vào khu vực tạo giá trị gia tăng cao mà bị hút vào những lĩnh vực an toàn, hình thức nhưng hiệu quả thấp. Đây là căn nguyên khiến hệ số sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam duy trì ở mức cao, buộc chúng ta phải bỏ ra nhiều vốn hơn để đạt được cùng một mức tăng trưởng” - đại biểu Nguyễn Như So phân tích.
Ở góc nhìn khác, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Lê Hoàng Anh, cho hay khu vực tư nhân hiện phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, chiếm khoảng 80% nguồn vốn. Tuy nhiên, tín dụng lại có xu hướng tập trung vào lĩnh vực bất động sản. Dư nợ tín dụng bất động sản tăng nhanh trong những năm gần đây, cao hơn nhiều so với các lĩnh vực sản xuất, trong khi lĩnh vực này chưa tạo ra giá trị xuất khẩu và việc làm bền vững tương xứng. Việc dòng vốn tập trung vào lĩnh vực đầu cơ thay vì sản xuất, công nghệ là nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài tình trạng ICOR cao.
Từ thực tế trên, các đại biểu cho rằng, yêu cầu cấp thiết là phải tái cấu trúc lại cơ chế dẫn vốn, trong đó chính sách tiền tệ cần chuyển mạnh từ nới lỏng tổng lượng sang dẫn dòng vốn có mục tiêu ưu tiên cho sản xuất, lĩnh vực tạo ra giá trị thực; đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng của ngân hàng.
Khơi thông và đa dạng hóa các kênh dẫn vốn
Trước bối cảnh nhu cầu đầu tư giai đoạn tới là rất lớn, các chuyên gia, nhà quản lý cho rằng, định hướng đột phá cho phát triển đồng bộ thị trường vốn cần tập trung vào hoàn thiện thể chế trái phiếu, phát triển các quỹ đầu tư quốc gia và nâng hạng thị trường chứng khoán.
Phát triển thị trường vốn phải trở thành một trụ cột. Nếu doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng thì nền kinh tế khó có nguồn vốn trung hạn và dài hạn bền vững. Cần một hệ sinh thái tài chính đồng bộ, trong đó đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, thị trường vốn giữ vai trò phân bổ hiệu quả và thể chế là nền tảng quyết định.
Bà Phạm Thúy Chinh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Đoàn ĐBQH TP. Huế) đề xuất cần hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, chú trọng các Luật Đầu tư, Luật Các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Nghị định về trái phiếu như Nghị định 153/2020/NĐ-CP; Nghị định 65/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 153/2020/NĐ-CP và Nghị định 08/2023/NĐ-CP, để thị trường trái phiếu là một kênh dẫn vốn cần thiết cho nền kinh tế, đặc biệt với các doanh nghiệp đang cần vốn phát triển. Đồng thời, nâng cao tính công khai, minh bạch trên thị trường trái phiếu, trong đó khuyến khích thực hiện xếp hạng tín nhiệm trái phiếu để hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá được rủi ro và phát triển kênh trái phiếu.
Đại biểu Nguyễn Hải Nam cũng đề nghị phát triển hệ thống nhà đầu tư và các trung gian tài chính đầu tư vào thị trường trái phiếu; thí điểm thành lập các Quỹ đầu tư quốc gia như kinh nghiệm của Trung Quốc (CIC, GGF), Singapore (GIC) hay Indonesia (Danantara) để chủ động đầu tư vào hạ tầng, công nghệ cao, AI, chip bán dẫn, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo. Các Quỹ này đóng góp đáng kể vào việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng vốn, lao động giá rẻ sang công nghệ cao và phát triển hiệu quả, quản trị hiện đại và công khai, minh bạch.
Các ý kiến cũng đề xuất thúc đẩy các loại hình trái phiếu mới như trái phiếu xanh; khuyến khích phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; vận hành hiệu quả thị trường giao dịch trái phiếu thứ cấp, nâng cao thanh khoản để hỗ trợ thị trường sơ cấp…
Đồng tình quan điểm trên, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, để thị trường vốn phát triển, chúng ta phải cải cách từ thể chế, hạ tầng đến thành viên thị trường, gồm người bán, người mua, đặc biệt là cần hình thành các định chế trung gian chuyên nghiệp, giúp nâng cao niềm tin của nhà đầu tư. Đây là định hướng sẽ được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo thực hiện trong thời gian tới.
Đối với thị trường chứng khoán, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2028, mức vốn hóa của thị trường chứng khoán phải đạt 120% GDP, tương đồng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ đó, thị trường chứng khoán phải là kênh huy động vốn trung, dài hạn quan trọng của doanh nghiệp, chia sẻ gánh nặng với các ngân hàng.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2031 đã xác định ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng; triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế…
Tại buổi làm việc với Bộ Tài chính mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, tổng vốn cần huy động cho giai đoạn tới gấp khoảng 1,7-2 lần nhiệm kỳ trước, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20-22%. Do đó, cần có giải pháp huy động nguồn lực nhà nước, xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội. Các kênh huy động quan trọng gồm thị trường chứng khoán, trái phiếu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, Bộ Tài chính phải sớm hoàn thiện nghị định về trái phiếu doanh nghiệp, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, cơ cấu lại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và nghiên cứu lập Quỹ Đầu tư quốc gia ngay trong quý II/2026.
Việc xác định rõ lộ trình và các giải pháp đồng bộ từ thể chế đến thị trường sẽ là nền tảng để hình thành hệ sinh thái tài chính cân bằng, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững./.
