
Doanh nghiệp “khát” nhân lực, người lao động vẫn thất nghiệp
Theo Báo cáo Thị trường lao động Quý IV/2025 và dự báo Quý I/2026 của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Khánh Hòa, nhu cầu tuyển dụng trong quý là 9.657 lao động, trong khi số người có nhu cầu tìm việc là 6.842. Con số tưởng như “cầu vượt cung” này lại ẩn chứa những nghịch lý đáng quan tâm.
Trong khi các ngành như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có nhu cầu tuyển dụng rất cao (1.974 lao động, chiếm 20,44% tổng nhu cầu), thì số lao động tìm việc trong ngành này lại rất thấp (chỉ 1,37%). Tương tự, các ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (cầu 19,15% - cung 10,38%) hay Xây dựng (cầu 7,47% - cung 2,32%) cũng rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng.
Ngược lại, một số ngành lại thừa lao động rõ rệt. Công nghiệp chế biến, chế tạo có tới 37,47% lao động tìm việc, nhưng nhu cầu tuyển dụng chỉ chiếm 27,36%. Các lĩnh vực hoạt động hành chính, dịch vụ hỗ trợ và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ cũng có tỷ lệ cung cao hơn cầu từ 3-4 lần.
Sự “lệch pha” của thị trường lao động Khánh Hòa còn thể hiện ở trình độ, kinh nghiệm. Báo cáo cho thấy, lao động trình độ đại học trở lên chiếm tới 22,95% trong số người tìm việc, nhưng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp cho nhóm này chỉ là 7,55%. Trong khi đó, lao động phổ thông, sơ cấp và trung cấp lại đang thiếu so với nhu cầu.
Về kinh nghiệm, phần lớn doanh nghiệp (59,40%) không yêu cầu kinh nghiệm, nhưng đa số người tìm việc (87,69%) lại có kinh nghiệm, thậm chí nhóm trên 5 năm kinh nghiệm chiếm tới 34,99%. Điều này tạo ra khoảng cách giữa mong muốn của người lao động có kinh nghiệm (thường kỳ vọng vị trí và mức lương cao hơn) với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Một điểm “lệch pha” quan trọng khác nằm ở mức lương. Phần đông người tìm việc (66,97%) mong muốn mức lương 5-7 triệu đồng, nhưng nhu cầu tuyển dụng lại tập trung ở nhóm 7-15 triệu đồng (55,73%). Điều này có thể phản ánh sự thiếu tự tin về năng lực, hoặc việc người lao động chưa nắm bắt được thang bậc lương thực tế trên thị trường.
Cung - cầu chưa tương thích cũng là thực trạng thị trường lao động tại TP. Hồ Chí Minh. Theo báo cáo đánh giá của Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố, so sánh cung - cầu lao động năm 2025 cho thấy thị trường đang trong trạng thái “cầu” vượt “cung” khá rõ khi nhu cầu tuyển dụng là 313.681 vị trí, cao hơn đáng kể so với 191.790 người tìm việc. Điều này thể hiện thực tế doanh nghiệp đang trong tình trạng thiếu hụt lao động tổng thể.
Tuy nhiên, sự mất cân đối thể hiện ở các lớp cấu trúc chi tiết còn rõ ràng hơn. Điển hình như, về trình độ, nhu cầu thị trường cần 178.443 lao động chuyên môn và 135.238 lao động phổ thông; trong khi đó, cung có “đỉnh lớn” nằm ở trình độ trung học phổ thông, trung học cơ sở (hơn 53%). Đáng chú ý, tỷ lệ lao động tìm việc làm có trình độ sơ cấp/chứng chỉ nghề quá thấp (chỉ 8,20%) khiến nhiều ứng viên không đáp ứng yêu cầu, đáp ứng công việc nhanh.
Về giới tính, cầu lao động có xu hướng thiên nam (54,44%) trong khi cung lao động lại thiên nữ (54,04%), tạo ra “khe hở” giới trong các ngành kỹ thuật, sản xuất, logistics. Nếu không có cơ chế tư vấn chuyển hướng và cải thiện điều kiện lao động phù hợp về giới, nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục thiếu ứng viên.
Về ngành nghề, cung tập trung lớn ở công nghiệp chế biến - chế tạo (28,10%) và dệt may, da giày, gỗ (20,38%), trong khi cầu của thị trường lại tăng nhanh ở các nhóm dịch vụ chất lượng, logistics, công nghệ, dẫn đến nguy cơ dư cung cục bộ ở một số ngành truyền thống và thiếu cung ở các ngành mới.
Bản tin Thị trường lao động Việt Nam Quý IV/2025 của Bộ Nội vụ cũng chỉ ra, nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất trong 5 nhóm ngành nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp lớn nhất.
Phát huy vai trò “cầu nối” của Trung tâm Dịch vụ việc làm
Thực tế tại 2 địa phương trên là ví dụ điển hình về tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động. Từ góc độ quản lý nhà nước, những điểm “lệch pha” trong cung - cầu lao động là cảnh báo quan trọng cho công tác tư vấn, đào tạo ngắn hạn, kết nối việc làm bảo đảm sự cân bằng cho toàn thị trường lao động.
Các chuyên gia cho rằng, để thu hẹp khoảng cách "lệch pha" này, cần một chiến lược đồng bộ từ nhiều phía, trong đó các Trung tâm Dịch vụ việc làm đóng vai trò then chốt trong việc kết nối và điều phối.
Trước hết, công tác phân tích, dự báo và thông tin thị trường lao động phải được đặt lên hàng đầu, đi vào chiều sâu. Các Trung tâm Dịch vụ việc làm cần chuyển mạnh từ thu thập số liệu thụ động sang phân tích, dự báo chủ động. Việc xây dựng và công khai "bản đồ nhân lực" theo quý, năm với thông tin chi tiết về nhu cầu theo ngành, nghề, trình độ, xu hướng kỹ năng cụ thể, mức lương… sẽ giúp người lao động định hướng và doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch nhân sự. Thông tin này cần được phổ biến rộng rãi qua nhiều kênh, từ website, ứng dụng di động đến các buổi tư vấn, tuyên truyền lưu động… Đồng thời, công tác dự báo cần chỉ ra được các nhóm công việc sẽ mất đi, giảm nhu cầu và các nhóm công việc mới nổi trong từng giai đoạn nhất định.
Các Trung tâm Dịch vụ việc làm cần làm cầu nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp "khát" nhân lực và cơ sở đào tạo để thiết kế chương trình "đào tạo theo đơn đặt hàng". Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo lại, nâng cấp kỹ năng cho lao động dư thừa ở các ngành truyền thống để họ có thể chuyển sang các lĩnh vực mới đang thiếu hụt như logistics, dịch vụ chất lượng cao hay kỹ thuật số…
Đặc biệt, vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 318/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm 2025, trong đó có quy định về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động. Đây là bước quan trọng nhằm hiện đại hóa quản lý lao động, phục vụ công tác quản lý, phân tích và dự báo thị trường lao động, hoạch định chính sách và phát triển thị trường lao động đồng bộ trên phạm vi cả nước. Nhờ đó, cơ quan chức năng có thể xác định trong tương lai gần có bao nhiêu lao động tham gia, bao nhiêu người thất nghiệp và tình hình biến động lao động theo ngành, vùng miền.
Cục trưởng Cục Việc làm Vũ Trọng Bình khẳng định, Luật Việc làm 2025 không chỉ là công cụ thúc đẩy hiệu quả sử dụng lao động mà còn góp phần tăng khả năng dự báo, quản trị thị trường lao động theo hướng hiện đại.
Cùng với làm tốt công tác dự báo, công tác đào tạo nghề phải hướng đến gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường và có tính thích ứng cao. Thay vì các chương trình đào tạo dài hạn, nặng về lý thuyết, cần đẩy mạnh các khóa đào tạo ngắn hạn, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho lao động muốn chuyển đổi việc làm.
Đối với nhóm lao động thất nghiệp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, công tác tư vấn nâng cao nhận thức cho người lao động, định hướng đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, càng cần được chú trọng. Đây cũng là một trong những mục tiêu trọng tâm đặt ra trong Luật Việc làm 2025 về chính sách bảo hiểm thất nghiệp: Xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp thành công cụ điều tiết thị trường lao động, chuyển đổi từ hỗ trợ thụ động sang chủ động, tập trung nguồn Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vào đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, giúp ngăn ngừa thất nghiệp, hỗ trợ người lao động quay lại thị trường nhanh chóng.
Cụ thể hóa mục tiêu này, một số ý kiến cho rằng, cần tận dụng tối đa chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng cụ thể hóa cơ chế để người lao động thất nghiệp dễ dàng tiếp cận và được tham gia các khóa đào tạo lại, đào tạo nâng cấp kỹ năng từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Việc hỗ trợ này có thể gắn với cam kết của người lao động về việc tham gia các ngành/nghề đang thiếu hụt.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc nâng cao hiệu quả kết nối thông qua ứng dụng công nghệ số cũng là một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra nhằm xây dựng ngân hàng dữ liệu lao động, doanh nghiệp đồng bộ; phát triển nền tảng tuyển dụng trực tuyến. Điều này không chỉ giúp quy trình kết nối nhanh chóng, minh bạch mà còn mở rộng phạm vi, cơ hội tìm kiếm và khớp nối việc làm giữa doanh nghiệp và người lao động.
