
Nghịch lý “đông lao động” nhưng lại “thiếu nhân lực”
Trong nhiều năm, lực lượng lao động dồi dào và chi phí nhân công thấp là lợi thế cạnh tranh nổi bật của Việt Nam. Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt trong các ngành sản xuất thâm dụng lao động như dệt may, điện tử, lắp ráp. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, lợi thế này đang dần suy giảm. Lao động đông không còn đồng nghĩa với tăng trưởng cao, bởi nền kinh tế hiện nay đòi hỏi năng suất, kỹ năng và công nghệ.
Số liệu thống kê năm 2025 cho thấy, lực lượng lao động Việt Nam đạt khoảng 53,2 triệu người, tuy nhiên, chỉ khoảng 29,2% lao động có bằng cấp, chứng chỉ. Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên vẫn ở mức cao. Quý IV/2025, tỷ lệ thất nghiệp nhóm 15-24 tuổi đạt 9,04%, cao hơn nhiều so với mức thất nghiệp chung. Điều này phản ánh tình trạng lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động.
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội - TS. Bùi Sỹ Lợi - cho rằng, khi cơ cấu kinh tế chuyển nhanh sang công nghệ, doanh nghiệp ngày càng cần lao động tay nghề cao. “Thị trường lao động đang đối mặt với nghịch lý: Thừa lao động phổ thông nhưng thiếu lao động kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và sản xuất hiện đại” - ông Lợi nhận định.
Theo ông Lợi, nguyên nhân chủ yếu là công tác đào tạo chưa có tầm nhìn dài hạn và chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường. Trong khi cơ cấu ngành nghề thay đổi nhanh, việc dự báo nhu cầu nhân lực còn hạn chế, khiến cung đào tạo chưa “ăn khớp” với cầu sử dụng lao động.
Sự thiếu hụt lao động tay nghề cao là nguyên nhân khiến năng suất lao động chưa được cải thiện nhiều. Năng suất lao động của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 240 triệu đồng/người, tăng so với mức 172,96 triệu đồng năm 2021. Bình quân giai đoạn 2021-2025, năng suất lao động tăng khoảng 4,78% mỗi năm. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn chưa đủ để thu hẹp khoảng cách với nhiều quốc gia trong khu vực.
Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cũng nhận định, năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với nhiều quốc gia trong khu vực. “Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn cạnh tranh bằng chất lượng lao động và công nghệ. Nếu không nâng cao kỹ năng và năng suất, lợi thế lao động đông sẽ nhanh chóng bị triệt tiêu” - ông Hiếu lưu ý.
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS) - PGS,TS. Nguyễn Đức Thành - cũng cảnh báo, lợi thế lao động giá rẻ đang dần mất đi khi công nghệ thay đổi nhanh. “Trong giai đoạn tới, cạnh tranh không còn dựa vào lao động giá rẻ mà dựa vào năng suất và công nghệ. Nếu không nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Việt Nam sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao” - ông Thành lưu ý.
Khi đào tạo theo địa chỉ, theo nhu cầu cụ thể của thị trường thì chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng lên và hạn chế lãng phí trong đào tạo. Thiếu hụt lao động kỹ năng cao cũng đang tác động trực tiếp đến năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
TS. Bùi Sỹ Lợi - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội
Giai đoạn 2021-2025, tăng năng suất đóng góp hơn 78% tăng trưởng GDP, trong khi yếu tố tăng số lượng lao động chỉ đóng góp khoảng 22%.
Cấp thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thị trường lao động Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ. Năm 2026 được dự báo sẽ là bước ngoặt khi doanh nghiệp không còn ưu tiên tuyển dụng lao động phổ thông số lượng lớn mà chuyển sang tìm kiếm lao động có kỹ năng.
Nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm, Bộ Nội vụ - ông Lê Quang Trung - cho rằng, năm 2026 mở ra nhiều cơ hội cho nhóm lao động có năng lực chuyên môn rõ ràng, kinh nghiệm thực tế và khả năng làm việc độc lập. Những vị trí đòi hỏi tay nghề cao, kỹ năng quản lý, tư duy công nghệ sẽ tiếp tục có nhu cầu tuyển dụng ổn định.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI đang giảm dần tuyển dụng lao động phổ thông và tăng đầu tư vào công nghệ. Các nhà máy sản xuất điện tử, ô tô, thiết bị công nghệ cao hiện sử dụng ít lao động hơn nhưng yêu cầu kỹ năng cao hơn. Điều này cho thấy nền kinh tế đang chuyển từ “tạo việc làm số lượng lớn” sang “tạo giá trị cao”.
Theo PGS,TS. Nguyễn Đức Thành, đây là bước chuyển tất yếu khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ trở thành yếu tố quyết định.
Bên cạnh đó, dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cũng đang đặt ra yêu cầu mới. TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV - cho rằng, các dự án đầu tư mới đang tập trung vào công nghệ cao, sản xuất thông minh và kinh tế số. Nhà đầu tư hiện nay không chỉ quan tâm đến chi phí lao động, mà còn chú trọng đến chất lượng nguồn nhân lực.
Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ - ông Phạm Anh Thắng - đề nghị, trong bối cảnh lợi thế lao động giá rẻ dần thu hẹp và dân số bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa, thị trường lao động cần chuyển mạnh từ mục tiêu “tạo đủ việc làm” sang “tạo việc làm chất lượng”. Điều này không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho người lao động mà còn góp phần trực tiếp nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế.
Giới chuyên gia dự báo, nhu cầu lao động trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, sản xuất thông minh, logistics, thương mại điện tử và kinh tế số sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới. Trong khi đó, lao động trong các ngành thâm dụng lao động sẽ giảm dần khi tự động hóa và trí tuệ nhân tạo được áp dụng rộng rãi. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Theo giới chuyên gia, việc đào tạo cần được thực hiện theo đơn đặt hàng của thị trường, dựa trên nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo cần chuyển mạnh sang đào tạo kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng số, kỹ năng công nghệ và ngoại ngữ. Đồng thời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động hiện có cũng trở thành yêu cầu quan trọng./.
