Kiểm toán huy động vốn tại các ngân hàng: 3 phương pháp tiếp cận phù hợp

TS. TRẦN PHƯƠNG THÙY - Học viện Ngân hàng | 29/01/2026 15:07

(BKTO) - Kiểm toán nội bộ (KTNB) hoạt động huy động vốn nhằm kiểm soát rủi ro, thúc đẩy tính minh bạch, bảo đảm tuân thủ quy định và an toàn hoạt động ngân hàng. Để cuộc kiểm toán đạt chất lượng, kiểm toán viên (KTV) có thể tiếp cận theo 3 phương pháp.

8-ktnb-hoat-dong-huy-dong-von-dong-vai-tro-quan-trong-trong-viec-dam-bao-tinh-ben-vung-ca-ve-loi-nhuan-va-uy-tin-cua-cac-ngan-hang.-anh-minh-hoa.-1-.jpg
KTNB hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính bền vững cả về lợi nhuận và uy tín của các ngân hàng. Ảnh minh họa

Những rủi ro điển hình

Huy động vốn của ngân hàng có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, tập trung chủ yếu vào 4 loại chính: Huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng (có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn); phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu); vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác; tăng vốn điều lệ - phát hành cổ phiếu.

KTNB hoạt động huy động vốn cung cấp những hiểu biết có giá trị về hiệu quả và tính bền vững của các nỗ lực thu hút tiền gửi, làm nổi bật các điểm mạnh và xác định những lĩnh vực cần cải thiện để tối ưu hóa tăng trưởng. Bên cạnh đó, kết quả kiểm toán còn đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro và khuyến nghị tuân thủ pháp lý đối với các ngân hàng.

Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng có thể phát sinh những rủi ro điển hình. Rủi ro chiến lược huy động vốn xuất hiện khi chính sách huy động không phù hợp với xu hướng thị trường, chạy đua lãi suất ngắn hạn, bỏ qua yếu tố bền vững. Điều này dẫn tới chi phí vốn cao kéo dài, làm mất thị phần huy động trung và dài hạn.

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi khách hàng rút tiền hàng loạt, rút trước hạn; cơ cấu kỳ hạn huy động không phù hợp với kỳ hạn cho vay. Nguyên nhân đến từ việc quản trị rủi ro chưa hiệu quả, phụ thuộc quá nhiều vào một số khách hàng lớn, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn thấp làm gia tăng rủi ro rút tiền và suy yếu tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng; hoặc ngân hàng không dự tính được biến động mạnh của lãi suất hay các sự cố dẫn tới người dân mất niềm tin.

Rủi ro lãi suất (hệ số beta tiền gửi) xảy ra khi chi phí huy động tăng nhanh trong khi lãi suất cho vay chưa kịp điều chỉnh. Nguyên nhân xuất phát từ sự cạnh tranh lãi suất ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt/nới lỏng đột ngột. Hệ số beta cao có thể gây áp lực lớn lên biên lợi nhuận và khả năng sinh lời nếu các tổ chức phải gia tăng nhanh chóng các khoản chi trả.

Rủi ro hoạt động phát sinh từ sai sót nghiệp vụ trong mở hoặc đóng sổ tiết kiệm; gian lận nội bộ, giả mạo chữ ký, chiếm dụng tiền gửi; lỗi hệ thống Core Banking… Nguyên nhân đến từ quy trình kiểm soát yếu, nhân viên thiếu đào tạo hoặc đạo đức nghề nghiệp kém, hạ tầng công nghệ thông tin không ổn định. Bên cạnh đó, việc quản lý, theo dõi dữ liệu tiền gửi còn hạn chế hoặc vẫn sử dụng các mô hình giám sát thủ công, chưa ứng dụng nhiều trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ giám sát dòng tiền hiện đại.

Rủi ro pháp lý và tuân thủ xuất phát từ việc vi phạm quy định về trần lãi suất huy động; không tuân thủ quản trị tài sản nợ (ALM) và quy định về nhận dạng thông tin khách hàng (KYC) khi mở tài khoản tiền gửi. Nguyên nhân đến từ nhận thức pháp lý hạn chế và áp lực tăng trưởng huy động, qua đó ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của ngân hàng.

Phương pháp tiếp cận trong kiểm toán hoạt động huy động vốn

KTNB hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính bền vững cả về lợi nhuận và uy tín của các ngân hàng. Thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận phù hợp, KTNB có thể xác định điểm mạnh, điểm yếu và các vấn đề ảnh hưởng đến tăng trưởng vốn huy động cũng như sự ổn định trong hoạt động của ngân hàng, qua đó hạn chế rủi ro. Để cuộc kiểm toán đạt chất lượng, KTV có thể tiếp cận theo 3 phương pháp.

Phương pháp tiếp cận hệ thống:

KTV cần xem xét toàn diện các chính sách và quy trình hiện hành để hiểu rõ khuôn khổ thu hút vốn huy động của ngân hàng. Trên cơ sở đó, tập trung đánh giá thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát trên các khía cạnh: Phân tách nhiệm vụ từ tiếp nhận, kiểm soát thường xuyên đến kiểm soát độc lập theo mô hình 3 tuyến phòng thủ; quy trình và phân cấp phê duyệt lãi suất, khuyến mại; kiểm soát trên Core Banking; hệ thống công nghệ thông tin; kiểm soát dữ liệu và báo cáo; kiểm soát tuân thủ pháp luật. Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xác định mức độ đầy đủ và hiệu quả của các kiểm soát trong việc ngăn ngừa rủi ro.

Đồng thời, KTV cần đánh giá tổng thể từ chính sách lãi suất, phí, khuyến mại đến đặc điểm sản phẩm huy động; hệ thống mạng lưới chi nhánh, kênh bán lẻ, các kênh huy động ứng dụng công nghệ số; yếu tố nhân sự, phân quyền, đào tạo và công nghệ. Hoạt động đánh giá không chỉ dừng lại ở việc rà soát hồ sơ, giấy tờ mà cần quan sát quá trình vận hành thực tế nhằm phát hiện các hiện tượng như tăng lãi tiền gửi ngoài sổ sách hoặc lợi dụng các chương trình khuyến mại trá hình, gây mất an toàn cho hệ thống.

Phương pháp tiếp cận dựa trên kết quả:

KTNB phân tích chuyên sâu các chỉ số hiệu suất chính như tốc độ tăng trưởng tiền gửi, tỷ lệ giữ chân khách hàng, mức độ trung thành và đặc điểm nhân khẩu học của khách hàng. Việc đánh giá định lượng này giúp xác định các xu hướng và lĩnh vực mà hoạt động huy động vốn có thể đang kém hiệu quả hoặc quá phụ thuộc vào một số kênh huy động nhất định.

Tiếp theo, KTV đánh giá hiệu quả của các sản phẩm tiền gửi bán lẻ, các nỗ lực tiếp cận thông qua mạng lưới chi nhánh và các nền tảng kỹ thuật số bằng cách kiểm tra mẫu, phỏng vấn và phân tích dữ liệu. Cách tiếp cận đa chiều này giúp bảo đảm cái nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động huy động vốn.

Một cuộc kiểm toán toàn diện thường bao gồm các bước: xem xét danh mục sản phẩm huy động và tỷ lệ sử dụng; phân tích cơ cấu lợi nhuận và chi phí; so sánh hiệu suất với các đối thủ cạnh tranh; theo dõi mức độ tương tác và phản hồi của khách hàng.

Đối với hoạt động thu hút và tiếp cận khách hàng, việc đánh giá được thực hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng như số lượng tài khoản mở mới, mức độ hài lòng, lòng trung thành và tiềm năng bán chéo các sản phẩm tài chính. Ngoài ra, KTV phân tích phạm vi và mức độ phù hợp của các chiến dịch tiếp thị, mức độ tham gia cộng đồng và các chiến lược truyền thông cá nhân hóa; từ đó chỉ ra những lỗ hổng trong kênh giao tiếp hoặc những cơ hội chưa được khai thác để thúc đẩy tăng trưởng tiền gửi, giúp ngân hàng tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và điều chỉnh chiến lược huy động vốn phù hợp.

Phương pháp tiếp cận theo rủi ro:

KTNB thực hiện kiểm toán các chiến lược huy động vốn nhằm đánh giá mức độ đa dạng hóa nguồn huy động. Đồng thời, KTV cần xác minh tính hiệu quả của hệ thống phát hiện gian lận, bao gồm giám sát tự động các giao dịch đáng ngờ và các mô hình bất thường.

Các khía cạnh chính cần đánh giá bao gồm: Chương trình nhận diện khách hàng có phù hợp với quy mô và mức độ gửi tiền; tần suất rà soát các cảnh báo giao dịch nhằm phát hiện các hoạt động rửa tiền tiềm ẩn; công tác đào tạo nhân viên trong việc nhận diện và báo cáo kịp thời các dấu hiệu đáng ngờ; duy trì hồ sơ đầy đủ phục vụ công tác kiểm toán và điều tra.

Trên cơ sở các phương pháp tiếp cận này, KTNB thu thập bằng chứng và đưa ra các ý kiến tư vấn, qua đó kiến nghị các giải pháp cải thiện hoạt động huy động vốn trong dài hạn, góp phần giúp ngân hàng phát triển bền vững./.

Cùng chuyên mục
  • Australia: Thách thức lớn trong kiểm soát an ninh mạng
    2 giờ trước Kiểm toán quốc tế
    (BKTO) - Theo báo cáo kiểm toán vừa được Văn phòng Kiểm toán bang Tây Australia (OAG) công bố, các vấn đề liên quan đến kiểm soát trong vận hành, quản lý nhân sự và quản lý hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) của 53 cơ quan chính quyền tiểu bang có thể được khắc phục bằng những biện pháp kiểm soát không quá phức tạp, chi phí thấp, song đến nay vẫn chưa được xử lý triệt để.
  • Công nghệ tái định hình kiểm toán công toàn cầu
    2 giờ trước Kiểm toán
    (BKTO) - Báo cáo từ 28 quốc gia tại Hội nghị Nhóm công tác Dữ liệu lớn của Tổ chức quốc tế Các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) cho thấy, ngành kiểm toán công đang chuyển dịch mạnh mẽ từ hậu kiểm hồ sơ giấy sang mô hình giám sát dựa trên vệ tinh, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data). Sáu xu hướng công nghệ chủ đạo đang từng bước tái định hình phương thức hoạt động của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) trên toàn cầu.
  • Kiểm toán sớm là tích cực, thận trọng và đúng tinh thần quản lý đầu tư công
    2 giờ trước Kiểm toán
    (BKTO) - “Việc chủ động đề xuất kiểm toán sớm là tích cực, thận trọng và đúng tinh thần quản lý đầu tư công hiện nay, là biện pháp quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước” - ông Đinh Đại Thanh - Phụ trách, điều hành Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sơn La (Ban QLDA) - chia sẻ với phóng viên Báo Kiểm toán.
  • Kiểm toán dự án giao thông trọng điểm: Chặn rủi ro, ngăn lãng phí
    11 giờ trước Kiểm toán
    (BKTO) - Chi phí xây lắp của các dự án giao thông quy mô lớn, quan trọng quốc gia luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức đầu tư. Do vậy, hoạt động kiểm toán không chỉ nhằm xác nhận tính trung thực, hợp lý của các thông tin, báo cáo tài chính của dự án mà còn là cơ sở để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả, cảnh báo rủi ro tiềm ẩn và làm rõ các dấu hiệu lãng phí (nếu có).
  • Minh bạch quản lý, sử dụng kinh phí dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh
    11 giờ trước Kiểm toán
    (BKTO) - Dịp Kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh 2/9 (A80, tháng 9/2025) là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, được Trung ương, các Bộ, ngành, địa phương tập trung nguồn lực tổ chức với tổng kinh phí lên tới hàng trăm tỷ đồng. Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn quản lý, sử dụng kinh phí tại một số đơn vị còn bộc lộ hạn chế, đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát, kiểm tra. Sự vào cuộc của Kiểm toán nhà nước (KTNN) được kỳ vọng sẽ góp phần bảo đảm công khai, minh bạch, sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước.
Kiểm toán huy động vốn tại các ngân hàng: 3 phương pháp tiếp cận phù hợp