Thực hành ESG: “Chìa khóa” nâng tầm nông nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu

(BKTO) - Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang chịu sức ép kép từ biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, việc thực hành khung ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) một cách hiệu quả, thực chất được xem là chìa khóa giúp doanh nghiệp (DN) nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

qc.jpg
Quanh cảnh Hội thảo công bố Báo cáo “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung ESG và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp”, do Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD) phối hợp với Oxfam tại Việt Nam và Fair Finance Asia tổ chức chiều 20/3. Ảnh: D.Thiện

Còn khoảng trống trong thực hành ESG

Nông nghiệp giữ vai trò là một trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam, cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng như gạo, cà phê, thủy sản... Tuy nhiên, đây cũng là ngành phát thải khí nhà kính lớn thứ hai sau năng lượng và chịu rủi ro ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, thể hiện qua các hiện tượng thiên tai khó lường. Những rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp đến nông hộ, hợp tác xã và DN về năng suất, chất lượng sản phẩm và sinh kế. Trong khi đó, xuất khẩu nông sản của Việt Nam cũng đang đối mặt với những yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ và người tiêu dùng về các yếu tố môi trường và xã hội, truy xuất nguồn gốc. Điều này khiến thực hành ESG không còn là “xu hướng tự nguyện”, mà đang dần trở thành điều kiện để DN nông nghiệp tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, theo kết quả Báo cáo “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung ESG và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp” vừa công bố, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nhiều hạn chế trong việc thực hành khung ESG cũng như những rào cản mà các hợp tác xã và DN nông nghiệp vẫn đang phải đối mặt.

Chia sẻ cụ thể, bà Hoàng Thu Trang – đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, kết quả khảo sát cho thấy thực hành ESG của các hợp tác xã và DN không đồng đều giữa các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị. Trong đó, các yếu tố môi trường và xã hội thường được thực hành nhiều hơn, trong khi các yếu tố quản trị còn hạn chế. Điều này cho thấy thực hành ESG trong nhiều trường hợp vẫn mang tính phản ứng trước yêu cầu của thị trường hoặc chính sách, thay vì xuất phát từ chiến lược phát triển nội tại của DN. Khoảng trống nhận thức - năng lực - giá trị cần được thu hẹp.

Về tiếp cận tài chính bền vững, tài chính xanh vẫn chưa tiếp cận được các hợp tác xã và DN nhỏ - nhóm đối tượng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Khảo sát hơn 97 hợp tác xã và DN cho thấy, dù 54% đơn vị đã tham gia ít nhất một chứng nhận nông nghiệp bền vững, nhưng chỉ có duy nhất 1 đơn vị tiếp cận được nguồn tài chính xanh. Nguồn vốn mà các đơn vị đang sử dụng chủ yếu vẫn đến từ tín dụng truyền thống (57%) và vay từ người thân (55%), phản ánh khoảng cách lớn giữa thực hành bền vững và khả năng tiếp cận tài chính phù hợp.

Đáng chú ý, bà Trang cho biết, rào cản không nằm ở việc thiếu thực hành ESG, mà chủ yếu đến từ các điều kiện tín dụng truyền thống như yêu cầu tài sản bảo đảm, năng lực xây dựng phương án kinh doanh và hệ thống quản trị của DN . Đồng thời, khoảng 80% đơn vị cho biết chưa từng tiếp cận thông tin về tín dụng xanh, cho thấy hạn chế lớn về thông tin và kết nối thị trường tài chính.

Một điểm đáng chú ý khác là dòng vốn tài chính xanh hiện vẫn tập trung chủ yếu vào các DN quy mô lớn hoặc các dự án đã đạt tiêu chuẩn sẵn có, trong khi các hợp tác xã và DN nhỏ - nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp - vẫn đứng ngoài dòng vốn này. Những phát hiện này cho thấy nhu cầu cấp thiết về việc thiết kế lại các công cụ tài chính, đồng thời tăng cường vai trò trung gian của các tổ chức hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thị trường vốn và các đối tượng nhỏ trong chuỗi giá trị.

Bà Trang nhấn mạnh, trong 1 - 3 năm tới, nhu cầu về tài chính bền vững trong nông nghiệp dự kiến sẽ gia tăng, đặc biệt cho các hoạt động như canh tác bền vững, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng các tiêu chuẩn, chứng nhận nông nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu cần rà soát và tháo gỡ các nút thắt trong tiếp cận vốn, nhằm đảm bảo các chính sách tín dụng xanh và tín dụng nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả trong thực tế. Việc thiết kế các công cụ tài chính phù hợp với đặc thù của hợp tác xã và DN nhỏ và vừa - nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong ngành - sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thực hành ESG theo hướng dài hạn và thực chất hơn.

Chia sẻ thêm góc nhìn về tài chính xanh, TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho biết, hiện nay một trong những thách thức lớn trong thúc đẩy tài chính xanh là khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Dù đã có nhiều chủ trương và chính sách được ban hành, việc triển khai trong thực tế vẫn còn hạn chế do thiếu cách hiểu thống nhất hay sự kết nối giữa cơ quan quản lý, tổ chức tài chính và DN.

“Một điểm quan trọng khác là chưa có một “ngôn ngữ chung” đủ rõ ràng về các tiêu chí và yêu cầu đối với dự án xanh, trong khi nhiều DN cũng chưa có hệ thống hồ sơ và dữ liệu để thể hiện các thực hành này một cách đầy đủ” – ông Minh nhấn mạnh; đồng thời cho rằng để giải quyết những thách thức này, cần tiếp cận theo hướng hệ sinh thái, trong đó các chính sách, công cụ tài chính và tiêu chuẩn được thiết kế và vận hành đồng bộ. Mặt khác, việc lan tỏa các mô hình thực hành tốt sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin và thúc đẩy chuyển đổi trong cộng đồng DN.

Từ góc độ ngân hàng, bà Nguyễn Thị Hải Yến - Ban Định chế tài chính, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) cũng nhấn mạnh thực tế nhiều hợp tác xã và DN nhỏ vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Ngay cả với các chính sách hỗ trợ lãi suất, nhiều DN phản ánh mức lãi suất vẫn còn cao so với khả năng của họ. Điều này cho thấy nhu cầu cần có các cơ chế linh hoạt và phù hợp hơn với thực tế của từng nhóm đối tượng.

20260320_153824.jpg
Các đại biểu trao đổi tại Hội thảo. Ảnh: D.Thiện

Đồng bộ giải pháp để thúc đẩy ESG và tài chính bền vững trong nông nghiệp

Từ thực tiễn trên, nhóm nghiên cứu cũng như các chuyên gia đã đề xuất những định hướng chính sách nhằm chuyển đổi ngành nông nghiệp hiệu quả và thực chất thông qua việc thu hẹp khoảng cách giữa thực hành ESG và khả năng tiếp cận tài chính bền vững, đặc biệt đối với nhóm hợp tác xã và DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa hiện chiếm đa số trong chuỗi giá trị nông nghiệp nhưng vẫn đứng ngoài các dòng vốn xanh.

Cụ thể, đối với cơ quan quản lý nhà nước, các khuyến nghị nhấn mạnh nhu cầu tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo tính thống nhất trong xây dựng và triển khai các chính sách liên quan đến ESG và tài chính xanh.

Các chuyên gia đề xuất sử dụng kết quả nghiên cứu như một nguồn tham khảo trong quá trình xây dựng khung ESG cho ngành nông nghiệp, đặc biệt trong thiết kế chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với các DN thực hiện dự án xanh, tuần hoàn. Đồng thời, việc tích hợp bảo hiểm nông nghiệp như một công cụ quản trị rủi ro trong thực hành ESG, cũng như hoàn thiện các quy định liên quan đến bảo hiểm, được xem là giải pháp quan trọng trong bối cảnh rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng nhưng tỷ lệ tham gia bảo hiểm hiện còn thấp (chỉ khoảng 18%).

Đối với khu vực tài chính, các chuyên gia chỉ ra vai trò dẫn dắt của hệ thống ngân hàng - hiện chiếm khoảng 88% tổng dư nợ tín dụng xanh - nhưng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống tài chính, cải thiện các sản phẩm tài chính phù hợp hơn với đặc thù của nông nghiệp và năng lực của các hợp tác xã, DN nhỏ. Các khuyến nghị bao gồm phát triển tín dụng xanh gắn với tài chính toàn diện, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đồng thời tăng cường các công cụ tài chính cho đổi mới sáng tạo và đầu tư tác động, đặc biệt ở các giai đoạn đầu và giai đoạn mở rộng của DN nông nghiệp.

Đối với DN và hợp tác xã, các chuyên gia nhấn mạnh năng lực quản trị là điều kiện tiên quyết để tiếp cận cả thị trường và tài chính. Các DN cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống ghi chép, minh bạch tài chính, truy xuất nguồn gốc và xây dựng phương án kinh doanh đáp ứng yêu cầu của tổ chức tín dụng và nhà đầu tư. Đồng thời, ESG cần được tích hợp vào chiến lược và mô hình kinh doanh, thay vì chỉ dừng ở các thực hành mang tính ngắn hạn hoặc đáp ứng yêu cầu từ bên ngoài.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, TS. Đinh Thị Hoa - Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển Nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo khung ESG cho ngành nông nghiệp, với định hướng áp dụng linh hoạt theo từng ngành hàng và nhóm đối tượng. Đây sẽ là cơ sở để các DN, hợp tác xã trong ngành có thể tiếp cận các cơ chế hỗ trợ và ưu đãi liên quan đến tài chính xanh. Bên cạnh đó, bảo hiểm nông nghiệp cũng được xác định là một công cụ quan trọng giúp người sản xuất quản trị rủi ro hiệu quả hơn, với các chính sách hỗ trợ cụ thể đang được hoàn thiện và dự kiến ban hành trong thời gian tới./.

Cùng chuyên mục
Thực hành ESG: “Chìa khóa” nâng tầm nông nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu