WB: Kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng 7,2% năm 2022

(BKT) Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng kinh tế 7,2% trong năm 2022. Tuy nhiên, nền kinh tế phải đối mặt với những rủi ro suy thoái ngày càng lớn…



                
   

WB dự báo kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7,2% năm 2022. Ảnh:Internet

   

Ngày 27/9, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra các phân tích mới nhất về tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Nền kinh tế trên đà phục hồi mạnh mẽ

Theo WB, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hồi phục mạnh mẽ sau đợt phong tỏa do Covid-19 vào quý III/2021, tăng 6,4% trong nửa đầu năm 2022. Sự phục hồi này chủ yếu dựa trên những khởi sắc của ngành xuất khẩu và giải phóng nhu cầu bị dồn nén sau khi các quy định về hạn chế di chuyển do Covid-19 được dỡ bỏ và gần đây là sự quay trở lại dần của khách du lịch nước ngoài.

Khu vực dịch vụ tăng 6,6% trong nửa đầu năm 2022, ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục 8,6% trong quý II/2022. Khu vực sản xuất công nghiệp (không bao gồm ngành xây dựng) tăng 8,4% trong nửa đầu năm 2022, được thúc đẩy bởi nhu cầu ổn định từ nước ngoài.

Dù nền kinh tế đang được phục hồi, khối doanh nghiệp và hộ gia đình vẫn chịu tác động dai dẳng. Một cuộc khảo sát về nhịp độ kinh doanh được WB thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3/2022 cho thấy 92,6% các công ty chính thức đã hoạt động trở lại, nhưng có đến 56% báo cáo cho thấy doanh số bán hàng trong thời gian khảo sát thấp hơn so với trước đại dịch.

Tình hình thị trường lao động tiếp tục được cải thiện nhưng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,5% trong quý II/2022 (thấp hơn tỷ lệ trước đại dịch là 71,3%). Bên cạnh đó, gần 20% hộ gia đình cho biết thu nhập của họ trong 7 tháng đầu năm nay thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

Chính sách tiền tệ thích ứng tạo ra thanh khoản dồi dào cùng với tăng trưởng tín dụng đạt 16,9% vào tháng 6/2022, vượt đáng kể mức tăng trưởng GDP danh nghĩa. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước đã dừng các biện pháp nới lỏng được áp dụng vào tháng 4/2020, đây là động thái quan trọng để xác định và xử lý các tài sản xấu có thể đã tích tụ trong cuộc khủng hoảng.

Không gian tài khóa vẫn dồi dào, thặng dư ngân sách được ghi nhận ở mức 9,6 tỷ USD tính đến tháng 6/2022 do công tác giải ngân vốn đầu tư công chưa hiệu quả và nhờ thu thuế đạt mức cao.

Chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế (chiếm 4,5% GDP) mở rộng thêm không gian cho các chương trình hỗ trợ tài chính bổ sung nhưng tiến độ triển khai còn chậm. Nợ của Việt Nam ở mức 39,9% so với GDP là bền vững và thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 60% do Quốc hội đề ra.

Triển vọng tăng trưởng cao

Giống như các quốc gia Đông Á khác (ngoài Trung Quốc), nền kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ phục hồi vào năm 2022, tăng trưởng 7,2%.

Các động lực tăng trưởng dự kiến sẽ xoay quanh nhu cầu từ cả trong và ngoài nước, từ ngành chế biến chế tạo cho đến ngành dịch vụ khi xuất khẩu sang các thị trường lớn (Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro và Trung Quốc) ở mức trung bình.

Lạm phát dự kiến sẽ tăng lên 3,8% vào năm 2022 và 4% vào năm 2023 do tác động của đợt biến động giá cả hàng hóa lần 2, trước khi giảm xuống 3,3% vào năm 2024.

Chi tiêu công dự kiến sẽ tăng nhanh trong nửa sau của năm 2022 và thâm hụt tài khóa của năm 2022 sẽ đạt 2,8% GDP, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thâm hụt được dự báo sẽ tăng nhẹ lên 3,2% GDP nếu việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ của năm 2022-2023 được đẩy mạnh.

Sau một thời gian bị đình trệ do cuộc khủng hoảng Covid-19, tốc độ giảm nghèo dự kiến sẽ tăng lên, với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,7% vào năm 2021 xuống còn 3,3% vào năm 2022, dựa trên chuẩn nghèo LMIC của WB (3,65 USD/ngày 2017 PPP).

Các rủi ro đối với nền kinh tế

WB cũng chỉ ra các rủi ro từ bên ngoài của nền kinh tế bao gồm áp lực lạm phát toàn cầu dai dẳng và các đối tác thương mại chính của Việt Nam (Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro và Trung Quốc) suy giảm kinh tế sâu hơn dự kiến và sự gián đoạn tiếp diễn trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC).

Về rủi ro trong nước, lạm phát cao hơn dự kiến, tình trạng thiếu lao động được ghi nhận trong các khu vực sản xuất và rủi ro tài chính gia tăng có thể ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng.

Trong ngắn hạn, với bối cảnh nền kinh tế vẫn đang phục hồi và lạm phát trong tầm kiểm soát, chính sách tiền tệ thích ứng đang được triển khai vẫn phù hợp trong khi một lập trường tài khóa có tính hỗ trợ hơn sẽ giúp phòng ngừa nguy cơ suy giảm đối với tăng trưởng. Điều này có nghĩa là cần sử dụng ngân sách và thực hiện chương trình hỗ trợ 2022-2023 hiệu quả hơn. Tài chính hộ gia đình vẫn còn bấp bênh, đặc biệt là các hộ nghèo cần tiếp tục được xã hội hỗ trợ.

Tuy nhiên, nếu lạm phát tăng nhanh trên 4% và lạm phát cơ bản gia tăng, các cơ quan chức năng nên xem xét điều chỉnh lại chính sách tài khóa và tiền tệ. Rủi ro trong khu vực tài chính gia tăng đòi hỏi phải tăng cường giám sát, báo cáo và trích lập dự phòng nợ xấu, đồng thời cải thiện các cơ chế giải quyết vấn đề mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và khu vực ngân hàng.

Về trung và dài hạn, mục tiêu trở thành nền kinh tế có thu thập trung bình cao của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới bằng cách sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn sản xuất, vốn tự nhiên và con người. Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi năng lực thể chế cần phải được tăng cường để phê duyệt và thực hiện các cải cách cơ cấu nhằm xây dựng một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh và phục hồi cao hơn/.
         
Theo Báo cáoCập nhật tình hình kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương kỳ tháng 10/2022của WB, tăng trưởng tại hầu hết các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đã phục hồi trong năm 2022 sau khi bị Covid-19 gây ảnh hưởng, trong khi đó, Trung Quốc bị lỡ đà tăng trưởng do tiếp tục các biện pháp kiềm chế virus. WB dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ đạt mức 2,8% năm 2022, giảm mạnh so với 8,1% năm 2021. Việt Nam được dự báo dẫn đầu khu vực về tăng trưởng kinh tế.

THÀNH ĐỨC
Cùng chuyên mục
WB: Kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng 7,2% năm 2022