
Nguy cơ ô nhiễm môi trường từ sản xuất nông nghiệp
Ông Lương Ngọc Quang (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - NNMT) cho biết, trong khi bao bì phân bón chủ yếu được xử lý như chất thải rắn thông thường, có thể tái chế hoặc tái sử dụng trong đời sống, thì bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) bị xếp vào chất thải nguy hại do chứa tồn dư hóa chất độc, cần quản lý nghiêm ngặt từ thu gom đến xử lý.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt và BVTV, trong ba năm 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc BVTV sau sử dụng.
Tuy nhiên, trong tổng lượng thu gom, chỉ khoảng 1.400 tấn bao bì được xử lý đúng quy định, hơn 500 tấn do người dân tự tiêu hủy và còn hơn 550 tấn chưa được xử lý. Theo ông Quang, tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn phổ biến, phản ánh thói quen “tiện đâu vứt đấy”, gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước, cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân.
Trong ba năm 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc BVTV sau sử dụng. Trong tổng số thu gom đó, hơn 550 tấn chưa được xử lý. Ý thức của người dân và vấn đề kinh phí được xem là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong việc xử lý rác thải độc hại từ sản xuất nông nghiệp.
Dẫn chứng từ địa phương, ông Nguyễn Hắc Hiển - Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV (Sở NNMT tỉnh Đắk Lắk) - cho biết, dù đã tổ chức nhiều lớp tập huấn và ký hợp đồng xử lý chất thải nguy hại, công tác thu gom vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do hạ tầng thiếu đồng bộ, bể chứa xuống cấp, thu gom không thường xuyên. Một số địa phương chưa chủ động triển khai, trong khi người dân còn thiếu kiến thức, thông tin.
“Tỉnh Đắk Lắk có hơn 845.000 ha đất nông nghiệp, với trên 3.100 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV; mỗi năm sử dụng khoảng 2,38 triệu tấn thuốc và phát sinh hơn 200 tấn bao bì” - ông Hiển thông tin.
Từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, tỉnh Đồng Tháp cũng đang đối mặt với áp lực đáng kể từ lượng bao bì thuốc BVTV phát sinh sau sử dụng. Theo ông Lê Chí Thiện - Phó Giám đốc Sở NNMT tỉnh Đồng Tháp, mỗi năm sử dụng hơn 3.100 tấn thuốc BVTV và trên 1 triệu tấn phân bón. Quy mô này kéo theo lượng chất thải lớn, đòi hỏi phải có giải pháp quản lý phù hợp.

Từ góc độ thực tiễn, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Bình Minh (Đắk Lắk) Triệu Thị Châu cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khâu xử lý cuối cùng. Nhiều nơi đã có bể chứa, nhưng rác sau thu gom lại bị tồn đọng do không có đơn vị chịu trách nhiệm vận chuyển. “Người dân là người trực tiếp xả rác, nhưng không có đủ điều kiện và kiến thức để xử lý đúng cách. Không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm cho nông dân” - bà Châu nhấn mạnh.
Giải bài toán kinh phí
Trước thực trạng trên, việc đảm bảo các điều kiện để tổ chức thu gom, đầu tư hạ tầng, thiết bị xử lý rác thải độc hại là yêu cầu cấp bách được đặt ra hiện nay.
Tuy nhiên, theo ông Lương Ngọc Quang, vấn đề kinh phí đang là một trong những điểm nghẽn lớn nhất khiến việc xử lý bao gói thuốc BVTV chưa đạt yêu cầu. “Nhiều địa phương thu gom bao bì nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ còn thiếu rõ ràng” - ông Quang cho biết.
Ông Lê Chí Thiện - Phó Giám đốc Sở NNMT tỉnh Đồng Tháp - nêu thực tế, tại địa phương hiện nay, chi phí xử lý chất thải nguy hại rất cao, khoảng 30 triệu đồng/tấn, trong khi nguồn lực địa phương còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách.
Đây cũng là chia sẻ của nhiều địa phương, khi nguồn kinh phí thu gom, xử lý rác thải độc hại chủ yếu trông chờ vào nguồn ngân sách vốn rất eo hẹp.
Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị định số 110/2026/NĐ-CP về cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn lực cho các địa phương.
Liên quan đến vấn đề này, đại diện Cục Môi trường (Bộ NNMT) cho biết, Luật Bảo vệ môi trường áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Luật quy định rõ trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu trong việc tái chế sản phẩm, bao bì hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý chất thải.
Theo đó, EPR là một công cụ quan trọng trong quản lý chất thải hiện đại, cụ thể nguyên tắc này. Đây là chính sách yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình không chỉ ở khâu sản xuất, tiêu thụ mà còn ở giai đoạn sau khi sản phẩm trở thành rác thải.
"Nguồn kinh phí này sẽ được cấp cho các địa phương, Bộ NNMT tổng hợp, phân bổ kinh phí một cách minh bạch theo đúng quy định" - đại diện Cục Môi trường cho biết.
Trước ngày 01/4 hằng năm, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải đối với các sản phẩm thuốc BVTV đã sản xuất hoặc nhập khẩu và đưa ra thị trường trong năm liền trước. Việc kê khai được thực hiện trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia tại địa chỉ epr.mae.gov.vn.
Ông Lương Ngọc Quang (Cục Trồng trọt và BVTV)
Việc triển khai EPR được kỳ vọng mang lại nhiều lợi ích cả về môi trường và kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, không ít doanh nghiệp còn gặp khó khăn do chi phí tăng, thiếu thông tin hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống quản lý.
Theo đại diện Hiệp hội CropLife Việt Nam, EPR cần được hiểu là cơ chế trách nhiệm thay vì nghĩa vụ tài chính đơn thuần. Khi toàn ngành cùng thực hiện, hệ thống sẽ đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, đồng thời tạo nền tảng cho mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Qua đó, hạn chế rủi ro đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Để triển khai hiệu quả, đại diện Hiệp hội CropLife Việt Nam nhấn mạnh, cần xây dựng cơ chế minh bạch và công bằng, trong đó mọi doanh nghiệp đều phải đóng góp mức tương ứng với lượng bao bì đưa ra thị trường.
“Nguồn tài chính từ EPR cần được sử dụng trực tiếp cho hoạt động thu gom và xử lý, đồng thời khuyến khích thiết kế bao bì dễ tái chế, giảm tác động môi trường. Kinh nghiệm cho thấy, với khung pháp lý rõ ràng và sự tham gia đầy đủ của các bên, công tác bảo vệ môi trường có thể đạt hiệu quả cao” - đại diện Hiệp hội CropLife Việt Nam chia sẻ.
Nhấn mạnh các quy định pháp lý đã rõ, đại diện Sở NNMT Đắk Lắk cho rằng cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm vi phạm về môi trường để tạo tính răn đe. Đồng thời, cần đảm bảo sự phối hợp đa ngành, đồng bộ, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. “Khi các giải pháp được thực hiện nhất quán, công tác quản lý rác thải độc hại sẽ hiệu quả hơn, từ đó giảm ô nhiễm môi trường và hướng tới nền nông nghiệp bền vững” - ông Nguyễn Hắc Hiển cho biết./.
