
Khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng để chọn giải pháp
Trao đổi với báo chí, TS. Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết, Bộ Công Thương đã tập hợp tất cả những đánh giá tác động đối với hoạt động của động cơ và những vấn đề liên quan, xem xét khả năng nâng cao hơn mức phối trộn ethanol trong thời gian tới.
Tính đến ngày 17/4/2026, Petrolimex và PVOIL là 02 doanh nghiệp (DN) đã có đủ tất cả các điều kiện về pháp lý, cơ sở hạ tầng triển khai kinh doanh xăng sinh học E10. Còn các DN khác vẫn đang chờ đợi giấy phép cho các trạm phối trộn. Nếu cơ quan quản lý nhà nước - cụ thể là Bộ Khoa học và Công nghệ - cấp phép sớm ngày nào thì DN đó có thể bắt tay ngay vào việc kinh doanh xăng sinh học E10.
Việc tiêu thụ xăng E5 ở thời gian đầu đưa ra thị trường khá tốt, song sau đó lượng tiêu thụ giảm dần, vậy để triển khai kinh doanh xăng E10 thì Bộ Công Thương có giải pháp gì để tránh được tình trạng tương tự?
Trả lời câu hỏi này của phóng viên Báo Kiểm toán, TS. Đào Duy Anh cho biết, lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học (xăng E5, E10, diesel B5, B10) tại Việt Nam được ban hành từ cuối năm 2012 và tại thời điểm đó trên thị trường còn rất nhiều loại xăng (A80, A82, A83, A85, A92…) nên khi Bộ Công Thương khảo sát vào năm 2014 thì thấy xăng A92 (RON 92) đã là xăng có chỉ số octan cao nên đã quyết định dùng xăng đó để phối trộn xăng sinh học.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các loại xe đời mới sản xuất đều được các hãng khuyến cáo sử dụng xăng A95 (RON 95). Vì thế, cho dù phối trộn hay không phối trộn xăng sinh học thì người tiêu dùng vẫn phải theo khuyến cáo của nhà sản xuất để tránh tác động tới động cơ, hoặc có những hẵng khuyến cáo sử dụng loại nhiên liệu được hãng khuyến cáo thì họ sẽ không bảo hành. Đó là một trong những nguyên nhân mà người tiêu dùng phải sử dụng xăng RON 95, dẫn đến việc tiêu thụ xăng E5 giảm - TS. Đào Duy Anh cho biết.
Rút kinh nghiệm từ việc đó, Bộ Công Thương đã thường xuyên cập nhật yêu cầu về nhiên liệu của các nhà sản xuất để điều chỉnh xăng nền cho phù hợp, tránh việc động cơ yêu cầu cao nhưng chúng ta vẫn giữ xăng nền thấp. Đó là bài học chúng ta rút ra được từ việc kinh doanh xăng E5 những năm qua.

3 yếu tố đảm bảo thành công
Theo lộ trình đề ra tại Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam thì đến ngày 01/06/2026 trên thị trường sẽ tồn tại 02 loại xăng E5 RON 92 và E10 RON 95, chúng tôi vẫn duy trì xăng E5 RON 92 để phục vụ cho một số loại xe máy, xe ô tô đời rất cũ, có thể không tương thích với xăng E10.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng chỉ duy trì xăng E5 đến hết năm 2030 và sau đó sẽ không còn xăng E5 RON 92 nữa. Hiện nay, mặt hàng dầu diezel (DO) sinh học chưa bắt buộc nhưng Bộ Công Thương cũng khuyến khích các nhà sản xuất phối trộn và sử dụng diezel sinh học để bảo vệ môi trường. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, nguồn cung diezel sinh học còn hạn chế nên chính sách của chúng ta mới chỉ dừng ở việc khuyến khích phát triển.
Trao đổi cụ thể hơn về những giải pháp nhằm đảm bảo triển khai thành công xăng sinh học E10 trong giai đoạn tới, TS. Đào Duy Anh cho biết, Bộ Công Thương đã xác định 03 yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất, cần thường xuyên cập nhật yêu cầu về nhiên liệu phù hợp với sự phát triển của động cơ. Công nghệ động cơ xăng liên tục được cải tiến, kéo theo các tiêu chuẩn kỹ thuật về nhiên liệu cũng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, từ ngày 01/01/2025, các dòng xe sản xuất, lắp ráp mới tại Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 5, do đó, nhiên liệu sử dụng cũng phải tương thích. Việc lựa chọn và sử dụng xăng nền phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả vận hành và tuân thủ quy định.
Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, địa phương và các bên liên quan nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc cho doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ sản xuất, phối trộn, lưu thông đến phân phối. Thông qua các cơ chế, chính sách và công cụ quản lý phù hợp, mục tiêu là đưa sản phẩm xăng sinh học đến tay người tiêu dùng với chi phí hợp lý nhất.
Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là công tác truyền thông để xoa bỏ tâm lý e ngại của người tiêu dùng, xuất phát từ thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác, như lo ngại về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu. Từ khi thử nghiệm dùng xăng E10 tại Việt Nam, các lãnh đạo Bộ Công Thương, PVOIL, Petrolimex là những người đã tiên phong, gương mẫu sử dụng, chúng tôi ghi nhận tình hình thực tế và khẳng định về chi phí hay tiêu tốn nguyên liệu, ảnh hưởng động cơ đều không có vấn đề khác thường so với xăng khoáng.
Các doanh nghiệp thí điểm kinh doanh E10 cũng cho biết, đến nay, PVOIL và Petrolimex gần như không ghi nhận phản ánh nào liên quan đến chất lượng sử dụng xăng E10. Điều này cho thấy sản phẩm khi đưa ra thị trường đã bảo đảm yêu cầu về chất lượng. Vì vậy, có thể đánh giá rằng, sự e dè của người tiêu dùng hiện nay chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý khi tiếp cận một sản phẩm mới.
Xăng E10 là bước khởi đầu, Bộ Công Thương sẽ còn tiếp triển khai đến xăng E15, E20 hoặc cao hơn. Với nước có nền công nghiệp cao như Mỹ đã sử dụng xăng E10 từ những năm 80 của thế kỷ trước và hiện nay đã dùng đến xăng E85. Còn tại Philippines, Thái Lan hiện đã sử dụng phổ biến E15 và từ 2026 nâng lên E20. Việt Nam đi sau so với các nước nhưng việc chuyển đổi cần có lộ trình, tạo sự đồng thuận trong xã hội.
TS. Đào Duy Anh - Bộ Công Thương
“Tôi tin rằng kế hoạch phát triển xăng E10 RON95 trong thời gian tới sẽ thành công, được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi, tâm lý e ngại sẽ dần được xóa bỏ, hướng tới việc tin dùng sản phẩm xăng sinh học E10 một cách bền vững” - Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL bày tỏ.
Xoay quanh sự đồng thuận trong xã hội, PGS,TS. Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phân tích, từ góc độ kinh tế và hành vi thị trường cho thấy người tiêu dùng rất nhạy cảm với giá xăng dầu. Đây là mặt hàng có độ co giãn cầu theo giá cao, nên khi giá biến động, phản ứng của thị trường là rất rõ rệt. Vì vậy, để xăng E10 được sử dụng rộng rãi, yếu tố then chốt trước hết là phải tạo được lợi thế về giá.

Doanh nghiệp đã tìm ra lời giải
Tuy nhiên, PGS,TS. Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh, đối với các DN, bài toán là hiệu quả kinh tế. Nếu chi phí gia tăng trong khi lợi ích biên giảm, DN sẽ không mặn mà tham gia. Vì vậy, chính sách cần được thiết kế đồng bộ, giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo niềm tin đầu tư dài hạn.
Trong đó, chính sách thuế đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài thuế bảo vệ môi trường, cần mạnh dạn áp dụng các ưu đãi như giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất, pha chế, phân phối xăng sinh học. Thậm chí, có thể xem xét miễn thuế trong 5 năm đầu, sau đó giảm dần theo lộ trình khoảng 10 năm để tạo động lực đủ dài cho nhà đầu tư. Bên cạnh thuế, cần giảm chi phí logistics - từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối nhằm kéo giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời, có thể triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, nhất là trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu còn nhiều biến động.
Một trụ cột quan trọng khác là cơ chế dự trữ và điều tiết thị trường. Việc nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu sẽ giúp ổn định nguồn cung trong các tình huống bất lợi từ bên ngoài. Cùng với đó là hoàn thiện hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ và có các chính sách thương mại phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ về đất đai, hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục hành chính để giảm rào cản gia nhập thị trường. Khi doanh nghiệp nhìn thấy quy mô thị trường đủ lớn và ổn định, họ sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn.
Về dài hạn, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái cho nhiên liệu sinh học, từ vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến đến hệ thống phân phối và tiêu dùng. Khi các chính sách về giá, thuế, tín dụng, hạ tầng và thị trường được triển khai đồng bộ, sẽ hình thành một “hệ sinh thái” hoàn chỉnh, qua đó tạo niềm tin cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Tất nhiên, để tăng nguồn cung xăng E10 thì cần phải tăng cường năng lực phối trộn của doanh nghiệp. Hiện nay, có 12 doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống phối trộn xăng E10 song mới chỉ có 3 DN đủ điều kiện được cấp phép. Bên cạnh đó, cần phải tháo gỡ ngay một số quy định về mặt kỹ thuật đối với xăng sinh học để các DN ngay lập tức chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học.
Khi chúng ta tăng cường sử dụng xăng E10 thì cũng góp phần vào việc ổn định nguồn cung trong nước. Ethanol hiện nay có một phần được sản xuất trong nước, chiếm khoảng 25-30%, phần còn lại được nhập khẩu từ các nước như Mỹ, Brazil và các quốc gia Nam Mỹ. Hiện nay, giá ethanol vẫn đang thấp hơn so với xăng nền. Vì vậy, việc sử dụng E10 không chỉ góp phần giảm áp lực nguồn cung mà còn giúp chúng ta chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động hơn trong việc đảm bảo nguồn cung xăng dầu cho thị trường.
Nêu thêm khó khăn từ phía DN, ông Mai Tuấn Đạt - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) cho biết, ở Việt Nam, để triển khai xăng E10 thì cần khoảng 1 triệu m³ ethanol mỗi năm, chưa tính đến sản lượng cho dầu diesel sinh học hay nhiên liệu hàng không bền vững. Nếu tính theo nguyên liệu sắn, để sản xuất 1 triệu m³ ethanol, chúng ta cần khoảng 2,5 triệu tấn sắn, tương đương với hơn 100.000 ha đất trồng mỗi năm. Thực tế cho thấy, nhiều nhà máy sau khi xây dựng đã gặp khó khăn về hiệu quả sản xuất do vấn đề nguyên liệu hoặc không mua được, hoặc mua được thì giá cao; và phải cạnh tranh với các ngành sử dụng nguyên liệu khác.
Để đảm bảo triển khai xăng E10 thành công, chúng ta cần tận dụng cơ hội này để tái cấu trúc chuỗi cung ứng ethanol, hướng tới tự chủ trong nước.
Có 03 yếu tố quan trọng cần sự tham gia của các Bộ, ngành và địa phương: Quy hoạch vùng nguyên liệu xung quanh nhà máy, đảm bảo cung cấp 70-80% nhu cầu; Thiết lập cơ chế giá và bao tiêu đủ hấp dẫn để tạo động lực cho nông dân tham gia; Tổ chức chuỗi khép kín, tối ưu hóa chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển.
Ông Mai Tuấn Đạt - Phó Tổng Giám đốc BSR
Thực tế cho thấy, giá thành nhiên liệu sinh học phụ thuộc rất nhiều vào giá nguyên liệu đầu vào. Khi nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí sản xuất sẽ hợp lý hơn, từ đó tạo điều kiện để nhiên liệu sinh học có giá cạnh tranh so với xăng khoáng./.
