
Giá trị thương hiệu quốc gia không ngừng gia tăng
Một Thương hiệu Quốc gia mạnh mẽ không chỉ có lợi ích cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu, mà còn tạo ra một hình ảnh tích cực về quốc gia trên thị trường thế giới, góp phần tăng cường lòng tin từ phía các đối tác thương mại, đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế.
Nhiều năm nay, Việt Nam không chỉ được thế giới đánh giá là điểm sáng trong bức tranh phục hồi, phát triển kinh tế, mà còn trong xây dựng, phát triển Thương hiệu Quốc gia.
Theo kết quả đánh giá của Tổ chức Brand Finance, giá trị Thương hiệu Quốc gia “Vietnam” liên tục được cải thiện trên bảng xếp hạng thế giới, tăng hơn 2,1 lần về quy mô và tăng 11 bậc trong xếp hạng giai đoạn 6 năm từ 2018 - 2024 và liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất thế giới: Đạt 235 tỷ USD năm 2018 (xếp hạng thứ 43/100 Thương hiệu Quốc gia giá trị nhất thế giới, tăng 2 bậc so với năm 2017). Năm 2024, giá trị Thương hiệu Quốc gia “Vietnam” đạt 507 tỷ USD, xếp hạng 32/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 1 bậc và 2% so với năm 2023.
Danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam 2025 cũng đã được Brand Finance công bố. Theo đó, tổng giá trị của 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam đạt 38,4 tỷ USD. Tập đoàn Viettel đứng đầu với giá trị thương hiệu đạt 7,4 tỷ USD (Viettel cũng là thương hiệu đứng đầu trong lĩnh vực viễn thông Việt Nam). Vinamilk xếp thứ 2, giá trị thương hiệu đạt 2,6 tỷ USD. Vietcombank đứng thứ 3, với giá trị thương hiệu đạt 2,4 tỷ USD và là thương hiệu ngân hàng giá trị nhất Việt Nam.

Theo thống kê từ Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), giá trị các thương hiệu Việt tăng gần 150% trong 7 năm qua, từ 203 tỷ USD (năm 2017) lên 507 tỷ USD (2024). Giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam không ngừng gia tăng với tốc độ trung bình khoảng 20-30% hằng năm. Thương hiệu Việt ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.
Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 sẽ có trên 1.000 sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam, góp phần khẳng định Việt Nam là quốc gia có hàng hóa và dịch vụ chất lượng, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Giá trị Thương hiệu Quốc gia Việt Nam nằm trong nhóm thương hiệu mạnh nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn và nỗ lực của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về cải cách môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng các quan hệ song phương và đa phương, hỗ trợ xuất nhập khẩu.
Đồng thời, kết quả cũng ghi nhận sự năng động, sáng tạo của các DN Việt Nam, đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để duy xây dựng, phát triển và quản trị thương hiệu sản phẩm, thương hiệu DN mình góp phần gia tăng giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là những DN thương hiệu quốc gia Việt Nam các ngành viễn thông, ngân hàng, thực phẩm.
Thương hiệu ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược cạnh tranh và phát triển của mỗi DN, ngành, địa phương và cả quốc gia. Một DN có sản phẩm với thương hiệu uy tín thì thương hiệu của DN đó sẽ được nâng cao. Một quốc gia có nhiều DN với thương hiệu mạnh sẽ là nền tảng quan trọng để nâng tầm thương hiệu của một quốc gia. Nói cách khác, một thương hiệu quốc gia mạnh khi có nhiều thương hiệu DN mạnh. Hiện trên thế giới đã có hơn 80 nước triển khai chương trình xây dựng thương hiệu quốc gia.

Việt Nam đã xây dựng và triển khai Chương trình Thương hiệu Quốc gia Việt Nam (Vietnam Value) theo Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25/11/2003 và kể từ năm 2008 đã chính thức lấy ngày 20/4 hằng năm là “Ngày Thương hiệu Việt Nam”. Theo thời gian, số lượng DN được công nhận có sản phẩm đạt Thương hiệu Quốc gia ngày càng tăng: 30 DN năm 2008, 62 DN năm 2014, 97 DN năm 2018...
Hằng năm, các DN này có hàng chục mặt hàng xuất khẩu kim ngạch thuộc Top 10 thế giới; đóng góp cho thu ngân sách nhà nước hàng trăm nghìn tỷ đồng; thu hút hàng trăm nghìn lao động và hỗ trợ an sinh cho cộng đồng xã hội hàng nghìn tỷ đồng và một số sản phẩm thương hiệu quốc gia đã mang tầm quốc tế…
Định vị Thương hiệu Quốc gia trong bối cảnh mới
Quản lý, thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam trong giai đoạn mới của cạnh tranh và hội nhập quốc tế đòi hỏi có sự gia tăng gắn kết thương hiệu sản phẩm của DN với các hoạt động thu hút đầu tư, quảng bá văn hóa, du lịch.
Cùng với đó là sự phối hợp đồng bộ, thống nhất của hệ thống thể chế từ kinh tế, thương mại đến ngoại giao, từ Trung ương đến địa phương và cộng đồng DN cả nước, bám sát nguyên tắc “ưu tiên cho nhóm sản phẩm hàng đầu và tập trung vào những thị trường trọng điểm”…

Đặc biệt, để xây dựng thành công Thương hiệu Quốc gia trong thời kỳ mới, đòi hỏi sự đồng thuận và có tổ chức thống nhất, với sự đồng hành của Nhà nước và DN, các tổ chức kinh tế; tăng cường sự nhận biết và uy tín đối với các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam; xây dựng Việt Nam là một quốc gia có sức cạnh tranh cao về hàng hóa, dịch vụ đa dạng, phong phú và gắn với các giá trị “Chất lượng - Đổi mới, sáng tạo - Năng lực tiên phong”…
Đồng thời, DN phải khắc phục tư duy lỗi thời “hàng tốt xuất khẩu, hàng kém bán trong nước”; nỗ lực chinh phục người tiêu dùng Việt Nam trên cơ sở xây dựng mạng lưới phân phối rộng khắp, đáp ứng mọi yêu cầu chất lượng. Các cơ quan chức năng cần kiểm soát biên giới chặt chẽ, không cho phép hàng ngoại chất lượng thấp tràn vào thị trường trong nước hoặc “mượn” xuất xứ Việt Nam để trung chuyển xuất khẩu, né thuế hay lách các hàng rào bảo hộ trong cạnh tranh thương mại quốc tế..., ngày càng gay gắt hơn.
Đồng thời, chú trọng xây dựng Thương hiệu Quốc gia đặt trong chiến lược tổng thể chung, với sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cơ quan và địa phương, các DN cùng cả cộng đồng. Bởi, đây là thước đo và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thương hiệu Quốc gia là thước đo và động lực phát triển cả vĩ mô và vi mô. Đã đến lúc hàng Việt và DN Việt Nam tự tin hơn và vươn ra, tự đến với người tiêu dùng bằng trí tuệ thông minh và bản lĩnh thương trường của chính mình, trước mắt và lâu dài, cũng là phương tiện quan trọng để hàng Việt vươn xa, hội nhập thành công.../.
