
Phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng cho từng địa phương
Sáng 24/4, tại Phiên bế mạc kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030.
Theo đó, Quốc hội xác định các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cả nước đạt từ 10%/năm trở lên.
Theo đó, GDP bình quân đầu người được kỳ vọng đạt khoảng 8.500 USD; tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm (IIP) đạt 11-12%; Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) đến năm 2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn dầu ASEAN; Tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 15-16%.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Quốc hội giao Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng hai chữ số song song với việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách thuế, phí khi cần thiết.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong bất kỳ tình huống nào.
Đáng chú ý, một điểm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần này là Quốc hội giao mục tiêu tăng trưởng cho từng địa phương. Theo đó, địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 cao nhất là Hải Phòng, với 13-13,5% tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân cả giai đoạn là 13-14%.
Trong khi đó, Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10-10,5% và 10,5-11% cho cả giai đoạn; TP. HCM được giao 10% cho cả 2 mục tiêu. Huế và Cần Thơ với mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 trên 10%, còn Đà Nẵng là trên 11%.
Gia Lai và Sơn La là 2 địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng thấp nhất với 8%.
Phát triển thị trường vốn trong nước trở thành kênh huy động dài hạn
Quốc hội yêu cầu phát triển thị trường vốn trong nước trở thành kênh huy động dài hạn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Cùng với đó là triển khai các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán, cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia, và xây dựng cơ chế đặc thù để phát huy hiệu quả các trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do.
Trong lĩnh vực ngân hàng, Quốc hội yêu cầu hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.
Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, phát hành cổ phiếu, NSNN… theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển lành mạnh và đa dạng hoá các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt cho tăng trưởng. Trọng tâm là nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, vật liệu mới và công nghệ số, đồng thời tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với vốn đầu tư nước ngoài (FDI), định hướng là thu hút có chọn lọc, chuyển từ ưu đãi thuế sang các cơ chế hỗ trợ dựa trên hiệu quả đầu ra; chú trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kết nối giữa khu vực FDI với khu vực trong nước; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.
Nghị quyết xác định phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; chuyển dịch mạnh mẽ sang các loại hình phân phối hiện đại. Tổ chức các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, thực chất, hiệu quả…
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật liên quan đến kinh tế số, đầu tư kinh doanh và các lĩnh vực như đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng… sẽ tiếp tục được rà soát và hoàn thiện.

Quốc hội cũng đặt mục tiêu hình thành các cực tăng trưởng mới, bao gồm 3 đặc khu kinh tế và 5 khu thương mại tự do đạt tầm khu vực. Môi trường đầu tư kinh doanh được kỳ vọng vươn lên nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và top 30 thế giới vào năm 2028, thông qua việc cắt giảm mạnh mẽ thủ tục hành chính.
Đưa vào khai thác khoảng 5.000 km đường cao tốc đến năm 2030
Về hạ tầng giai đoạn tới, dự kiến đưa vào khai thác 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030, trong đó hoàn thành 1.655 km trong 5 năm tới. Các dự án trọng điểm như cảng biển trung chuyển quốc tế, sân bay quy mô lớn và đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam sẽ được ưu tiên nguồn lực. Hạ tầng năng lượng cũng được chú trọng, với định hướng phát triển mạnh năng lượng tái tạo, đồng thời nghiên cứu nhiệt điện than ở quy mô hợp lý gắn với lộ trình xử lý khí thải.
Cùng với đó, Quốc hội nhấn mạnh việc tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam.
Đặc biệt, Quốc hội cũng yêu cầu rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn đọng (kể cả các dự án trong và ngoài ngân sách), quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền về vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”; chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội.
