Khai mở thị trường Halal, tạo dư địa cho tăng trưởng bứt phá

(BKTO) - Với hơn 2 tỷ người tiêu dùng Hồi giáo và tốc độ tăng trưởng ổn định cao, thị trường Halal toàn cầu đang mở ra “cửa ngõ” chiến lược cho xuất khẩu nông sản, thực phẩm và nhiều ngành khác của Việt Nam, góp phần đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào các đối tác truyền thống và tìm kiếm động lực tăng trưởng bền vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động.

halal.jpeg
Quy mô thị trường Halal toàn cầu dự báo có thể đạt hơn 10 nghìn tỷ USD vào năm 2030. Ảnh minh họa: S.T

Cơ hội lớn từ thị trường Halal toàn cầu

Chia sẻ tại Hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới sáng tạo, hội nhập và phát triển bền vững” với chủ đề “Kinh tế Halal: Động lực của phát triển bền vững”, do Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ISAWAAS) phối hợp với một số đơn vị tổ chức ngày 22/4, PGS,TS. Nguyễn Xuân Trung - Viện trưởng ISAWAAS cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, các giá trị như đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững đang định hình lại cấu trúc kinh tế thế giới. Trong dòng chảy đó, kinh tế Halal nổi lên không chỉ như một thị trường mà còn là một mô hình phát triển mới, tích hợp các yếu tố đạo đức, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, khái niệm Halal hiện đã vượt xa khuôn khổ lĩnh vực thực phẩm, mở rộng sang các lĩnh vực như dược phẩm, mỹ phẩm, tài chính, du lịch và logistics, hình thành một hệ sinh thái kinh tế đa ngành, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn.

Đặc biệt, không chỉ dừng lại ở yêu cầu tuân thủ tôn giáo, các sản phẩm và dịch vụ Halal ngày nay còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, an toàn, minh bạch và thân thiện môi trường. Điều này tạo ra sự tương thích cao với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đồng thời mở rộng tệp khách hàng vượt ra ngoài cộng đồng Hồi giáo. Ngày càng nhiều người tiêu dùng không theo đạo Hồi lựa chọn sản phẩm Halal vì coi đó là “bảo chứng” cho chất lượng và đạo đức sản xuất.

Về quy mô thị trường Halal, PGS,TS. Đinh Công Hoàng - Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á (ISAWAAS) cho biết, quy mô thị trường Halal toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực quan trọng của kinh tế thế giới. Nền kinh tế Halal đã đạt quy mô khoảng 2,43 nghìn tỷ USD vào năm 2023, trong khi các dự báo quốc tế cho thấy con số này có thể tăng lên gần 10,5 nghìn tỷ USD vào năm 2030. Đặc biệt, với hơn 2 tỷ người Hồi giáo, tương đương khoảng 25% dân số thế giới, cùng với xu hướng tiêu dùng có trách nhiệm, thị trường này có rất nhiều dư địa tăng trưởng dài hạn.

Đối với Việt Nam, cơ hội để tận dụng tiềm năng của thị trường Halal là rất rõ nét. TS. Kiều Thanh Nga - ISAWAAS nhận định, Việt Nam có thế mạnh nổi bật về sản xuất và xuất khẩu nông sản, thực phẩm, là những lĩnh vực cốt lõi của thị trường Halal. Thực tế, nhiều doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Bibica, Cholimex Food… đã bước đầu tiếp cận và xuất khẩu sản phẩm Halal sang các thị trường Hồi giáo. Bên cạnh đó, vị trí địa lý tại trung tâm Đông Nam Á giúp Việt Nam trở thành cầu nối thuận lợi giữa các thị trường Halal lớn như Indonesia, Malaysia với khu vực Trung Đông.

Không chỉ vậy, Việt Nam còn sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh mang tính cấu trúc. Theo phân tích của PGS,TS. Đinh Công Hoàng, năng lực sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt kỷ lục hơn 70 tỷ USD, cùng với mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do và vị trí địa kinh tế thuận lợi đã tạo nền tảng vững chắc để “Halal hóa” các sản phẩm xuất khẩu. Đặc biệt, tiềm năng xuất khẩu hàng hóa Halal sang 57 quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) ước tính lên tới 34 tỷ USD - một con số cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn.

20260422_085135.jpg
Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: Tuấn Minh

Còn khoảng cách lớn giữa tiềm năng và khả năng khai thác thị trường

Mặc dù có nhiều lợi thế, nhưng thực tế cho thấy mức độ tham gia của Việt Nam vào thị trường Halal vẫn còn rất hạn chế. Theo PGS,TS. Đinh Công Hoàng, kim ngạch xuất khẩu Halal của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 800 - 850 triệu USD, tương đương hơn 2% so với tiềm năng 34 tỷ USD. Đây là một nghịch lý lớn, phản ánh khoảng cách đáng kể giữa năng lực sản xuất và khả năng khai thác thị trường.

Theo TS. Kiều Thanh Nga, một trong những nguyên nhân chính khiến Việt Nam vẫn hạn chế trong khai thác thị trường Halal nằm ở khung thể chế và hệ thống tiêu chuẩn chưa hoàn thiện, trong đó sự thiếu đồng bộ về chính sách và tiêu chuẩn Halal khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và xuất khẩu. Mặt khác, việc mỗi quốc gia Hồi giáo áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau cũng tạo ra rào cản kỹ thuật đáng kể, buộc doanh nghiệp phải đầu tư thêm chi phí để đáp ứng yêu cầu riêng của từng thị trường.

Ở góc độ thị trường, dù Việt Nam đã thành lập cơ quan chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT), song hệ thống này vẫn chưa được công nhận rộng rãi trên trường quốc tế, đặc biệt là chưa tham gia các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) với các thị trường trọng điểm. Điều này khiến sản phẩm Halal của Việt Nam phải đối mặt với “rào cản kép”, vừa phải đạt chứng nhận trong nước, vừa phải xin chứng nhận lại tại thị trường nhập khẩu, làm gia tăng chi phí và thời gian.

Cùng với đó, năng lực doanh nghiệp còn là điểm nghẽn lớn. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có đủ nguồn lực tài chính và kỹ thuật để chuyển đổi dây chuyền sản xuất theo tiêu chuẩn Halal. Việc đảm bảo chuỗi cung ứng tách biệt, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng theo yêu cầu khắt khe của Halal đòi hỏi đầu tư đáng kể, trong khi nhiều doanh nghiệp còn thiếu thông tin và kinh nghiệm thực tiễn.

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, một yếu tố quan trọng khác là khoảng cách về nhận thức và văn hóa. Cộng đồng người Hồi giáo tại Việt Nam còn rất nhỏ, khiến phần lớn doanh nghiệp chưa có sự hiểu biết đầy đủ về luật Sharia, tập quán tiêu dùng và các yêu cầu đặc thù của thị trường Halal. Đây là “rào cản mềm” nhưng có tác động sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận và phát triển thị trường.

Ngoài ra, hạn chế về hạ tầng và logistics cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Hệ thống kho bãi, vận chuyển và chuỗi lạnh Halal tại Việt Nam chưa phát triển đồng bộ, trong khi chi phí logistics Halal cao hơn đáng kể so với logistics thông thường, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Khai mở động lực tăng trưởng mới từ kinh tế Halal

Để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn khai thác thị trường Halal, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ và dài hạn.

Trước hết, việc hoàn thiện thể chế và xây dựng khung chính sách phát triển kinh tế Halal là yêu cầu cấp thiết. TS. Kiều Thanh Nga nhấn mạnh cần xác định rõ các ngành ưu tiên, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với quốc tế và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị Halal toàn cầu.

Song song với đó, cần phát triển hệ sinh thái Halal đồng bộ. Điều này bao gồm nâng cao năng lực của các tổ chức chứng nhận, xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng, phát triển logistics và chuỗi cung ứng Halal, cũng như thiết lập các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và tư vấn. Những cấu phần này sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin, nâng cao năng lực và giảm chi phí tham gia thị trường.

Ở tầm chiến lược, PGS,TS. Đinh Công Hoàng đề xuất xây dựng hệ sinh thái Halal quốc gia dựa trên các trụ cột như hoàn thiện tiêu chuẩn, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Đặc biệt, việc ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng nhận Halal với các quốc gia Hồi giáo được xem là “chìa khóa” để mở cửa thị trường và giảm thiểu rào cản thương mại.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế Halal. Theo đó, các chính sách cần tập trung vào đào tạo, nâng cao nhận thức, hỗ trợ chi phí chứng nhận và xúc tiến thương mại. Việc tổ chức các hội chợ, diễn đàn kết nối với đối tác từ các quốc gia Hồi giáo sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường và gia tăng cơ hội hợp tác.

Từ góc nhìn quốc tế, Đại sứ Indonesia tại Việt Nam - ông Adam Mulawarman Tugio - nhấn mạnh, Halal không chỉ là một tiêu chuẩn tôn giáo mà đã trở thành biểu tượng của chất lượng, minh bạch và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, việc tận dụng hiệu quả cơ hội từ kinh tế Halal không chỉ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, bao trùm và bền vững hơn./.

Cùng chuyên mục
Khai mở thị trường Halal, tạo dư địa cho tăng trưởng bứt phá