Quyết tâm phấn đấu tăng trưởng hai con số

(BKTO) - Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, diễn ra sáng 13/4 tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương - đã trình bày “Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" (Kết luận số 18).

ong-nguyen-thanh-nghi.jpg
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày các nội dung của Kết luận số 18. Ảnh: VPQH

Theo Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Kết luận số 18 có ý nghĩa rất quan trọng, đã tổng hợp các nội dung cơ bản của Đề án các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng 2 con số, là bước cụ thể hóa các định hướng chiến lược, quyết sách lớn về phát triển KTXH trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp, khó lường; đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, khiến giá dầu, khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển KTXH nước ta.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu nhằm đạt tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số để hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.

Theo đó, mục tiêu đề ra là: Đất nước phát triển nhanh, bền vững. Đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới. Phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân. Mục tiêu cũng bao quát các nội dung khác về thể chế, nguồn nhân lực, văn hóa, xã hội, môi trường, hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Kết luận bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV, chi tiết hóa thành 51 chỉ tiêu chủ yếu để bảo đảm thực hiện được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong đó, một số chỉ tiêu quan trọng là: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm: ≥ 10,0%; GDP bình quân đầu người đến năm 2030: 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân/GDP: 40%; tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP: 18%; tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP: 5%...

Ngoài ra còn 42 chỉ tiêu cụ thể khác liên quan các ngành, lĩnh vực KTXH, môi trường, hạ tầng, kinh tế xanh, năng suất lao động…

quang-canh-7.jpg
Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội. Ảnh: VPQH

Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Kết luận xác định 04 nhóm quan điểm chỉ đạo, có thể khái quát những nội dung chủ yếu sau:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Hai là, phát huy sức mạnh, sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và toàn hệ thống chính trị.

Ba là, đổi mới quản trị, nâng cao năng lực thực thi; phân cấp, phân quyền tối đa, thực chất, gắn với cải cách thủ tục hành chính; bảo đảm nguồn lực; tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc; phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Bốn là, xây dựng đồng bộ thể chế kiến tạo, phát triển bền vững; tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông, giải phóng nhanh mọi nguồn lực, giải phóng sức sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất mới.

Năm là, thực hiện hạch toán hiệu quả KTXH trong phân bổ; quản lý; sử dụng nguồn lực.

Sáu là, kiên định mục tiêu cùng với hành động quyết liệt, hiệu quả, linh hoạt, đảm bảo vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai đoạn 2027-2030.

Bảy là, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững; đầu tư công hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo lan tỏa lớn, hài hòa giữa các vùng, miền và tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.

quang-canh-6.jpg
Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội. Ảnh: VPQH

Kết luận cũng đề ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về: KTXH; tài chính quốc gia; vay, trả nợ công và về đầu tư công trung hạn và 03 Phụ lục về: Các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030; Các chỉ tiêu chủ yếu Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030 về tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công; Những nhiệm vụ trọng tâm hoàn thành trong năm 2026 với 92 nhiệm vụ, cụ thể cơ quan chủ trì, thời gian, kết quả.

Theo đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về KTXH gồm 11 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, việc quán triệt và triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển KTXH giai đoạn 2026-2030 không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm, tính tiên phong, "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm", trở thành hạt nhân trong quá trình chuyển mình toàn diện của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong đó, cần thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động, đổi mới quản trị thực thi để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số"; tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; hoàn thiện thể chế, pháp luật để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tận dụng mọi cơ hội để tăng trưởng, phát triển đất nước trong bối cảnh hiện nay; chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp và các mô hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; khơi thông và đa dạng hóa chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và chuẩn mực con người Việt Nam; hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa, phát triển đô thị; quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

dsc_3094.jpg
794 đảng viên thuộc Đảng bộ Kiểm toán nhà nước tham dự Hội nghị tại 14 điểm cầu Trụ sở Kiểm toán nhà nước và các Kiểm toán nhà nước khu vực. Ảnh: M. Thúy

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia bao gồm 6 nhiệm vụ cụ thể. Việc quán triệt và triển khai bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia là nhiệm vụ quan trọng và mang tính lâu dài, đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý ngân sách thuần túy sang tư duy hạch toán hiệu quả KTXH tổng thể, nâng cao chất lượng nguồn thu và tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia.

Theo đó, cần quản lý, điều hành ngân sách nhà nước (NSNN) hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, nhất là chi cho hội nghị, hội thảo, đi công tác, dành nguồn lực cho các nhiệm vụ an sinh xã hội, các dự án hạ tầng trọng điểm.

Xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu NSNN, hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế, bảo đảm tính trung lập của hệ thống thuế.

Đối với chính sách đặc thù tài chính - NSNN của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu NSNN...

Tận dụng tối đa công năng sử dụng trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới. Đồng thời, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp vay trả nợ công gồm 5 nhiệm vụ cụ thể. Đây là nhiệm vụ xuyên suốt và có tính dài hạn để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia, giữ vững an toàn nợ công, trọng tâm là tăng cường quản trị rủi ro và nâng cao tính minh bạch trong huy động, sử dụng cũng như báo cáo thông tin nợ công. Chủ động linh hoạt trong việc lựa chọn công cụ, hình thức, khối lượng, kỳ hạn và thời điểm vay gắn chặt với công tác quản lý ngân quỹ. Tập trung giảm chi phí và áp lực huy động vốn cho NSNN, bảo đảm khả năng dự phòng trong các thời điểm thị trường biến động không thuận lợi.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp đầu tư công trung hạn gồm 3 nhiệm vụ cụ thể, được coi là yêu cầu chiến lược, đặc biệt quan trọng và cấp thiết nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế nhanh trong dài hạn.

"Bên cạnh các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên, Trung ương yêu cầu tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư" - đồng chí Nguyễn Thanh Nghị lưu ý thêm./.

Cùng chuyên mục
Quyết tâm phấn đấu tăng trưởng hai con số