
Thưa ông, tại các diễn đàn của Quốc hội, ông từng cho rằng thời gian quyết toán ngân sách kéo dài khiến số liệu không còn giá trị hỗ trợ công tác lập dự toán. Việc Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2025 rút ngắn thời hạn quyết toán 6 tháng so với Luật NSNN năm 2015 được kỳ vọng sẽ khắc phục những hạn chế nào, thưa ông?
Theo Luật NSNN năm 2015, quyết toán có thể muộn tới 18 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách. Độ trễ này khiến dữ liệu “lạc nhịp” với công tác lập dự toán, đặc biệt khi nền kinh tế biến động nhanh về giá cả, tăng trưởng, chính sách thuế và tiền lương.
Việc Luật NSNN năm 2025 rút ngắn thời hạn phê chuẩn quyết toán còn chậm nhất 12 tháng được kỳ vọng khắc phục 4 hạn chế cơ bản:
Thứ nhất, tăng “độ tươi” của dữ liệu phục vụ lập dự toán. Khi quyết toán được phê chuẩn sớm, cơ quan lập dự toán có thể sử dụng kịp thời các thông tin đã “chốt sổ”. Từ đó, dự toán năm sau giảm tình trạng “đi theo quán tính” hoặc dựa vào báo cáo tạm thời, hạn chế sai lệch giữa dự toán - thực hiện - quyết toán.
Thứ hai, siết kỷ luật tài khóa và trách nhiệm giải trình theo chu kỳ ngắn hơn. Chu kỳ quyết toán ngắn tạo áp lực tích cực buộc các Bộ, ngành, địa phương phải khóa sổ đúng hạn, giảm tình trạng “để lâu hóa bùn” rồi hợp thức hóa sau.
Thứ ba, giảm độ trễ phát hiện sai phạm và tăng hiệu quả giám sát. Quyết toán đến sớm thì kết luận kiểm toán, kiến nghị xử lý tài chính và kiến nghị sửa cơ chế cũng sớm hơn, rút ngắn thời gian “tiền đã chi nhưng trách nhiệm chưa rõ”.
Thứ tư, tạo nền tảng cho điều hành ngân sách “theo dữ liệu”, giảm nhu cầu điều chỉnh bị động…
Như ông vừa chia sẻ, rút ngắn thời gian là mệnh lệnh từ thực tiễn để tăng “độ tươi” của dữ liệu. Theo ông, sự thay đổi này đặt ra yêu cầu “tự làm mới mình” như thế nào đối với các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương, đặc biệt là KTNN để vừa nhanh, vừa không sai sót?
Trong bối cảnh Luật NSNN năm 2025 rút ngắn mạnh thời gian kiểm toán và quyết toán, yêu cầu đặt ra không chỉ là “làm nhanh hơn”, mà là tái cấu trúc toàn bộ quy trình quản trị ngân sách phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Yêu cầu đối với các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương trong việc gửi báo cáo quyết toán đúng hạn gồm: Xác lập rõ trách nhiệm của người đứng đầu theo chuỗi, không đứt đoạn; chuẩn hóa hồ sơ và dữ liệu là điều kiện tiên quyết; tổ chức tiền kiểm và phân tầng trách nhiệm trước khi gửi quyết toán; chuyển đổi số trở thành điều kiện bắt buộc; cơ chế trách nhiệm phải song hành với cơ chế hỗ trợ.
Đặc biệt, hiện nay, cấp xã trở thành cấp chính quyền trực tiếp gánh khối lượng công việc lớn hơn. Vì vậy, cấp xã phải được chuẩn hóa lại chức năng tài chính - kế toán; công chức đảm nhận tại Phòng Kinh tế phải đủ số lượng, tinh thông nghiệp vụ, không thể duy trì mô hình nhân sự mỏng, kiêm nhiệm và còn khoảng cách với yêu cầu. Cấp trên phải đóng vai trò đỡ việc, hỗ trợ và kiểm soát, không để cấp xã trở thành “điểm nghẽn” kéo lùi cả chu trình quyết toán.
Trong bối cảnh thay đổi mô hình chính quyền, kiểm toán cần chỉ rõ những bất cập về quy trình, phân cấp, phối hợp, từ đó kiến nghị sửa cơ chế, thay vì chỉ dừng ở xử lý tài chính.
Để hoàn thành nhiệm vụ trong bối cảnh thời gian kiểm toán bị rút ngắn, KTNN cần điều chỉnh mạnh phương thức tiếp cận, tập trung vào 5 khâu:
Thứ nhất, chuyển mạnh sang kiểm toán dựa trên rủi ro và dữ liệu. Không kiểm toán dàn trải theo địa giới hành chính, mà phân loại đối tượng theo mức độ rủi ro để tập trung nguồn lực vào nơi dễ phát sinh sai phạm, lãng phí.
Thứ hai, tập trung vào chất lượng số liệu quyết toán và các “điểm nóng” ngân sách. Ưu tiên kiểm toán các khoản chuyển nguồn lớn, tạm ứng kéo dài, quyết toán dự án hoàn thành, mua sắm công, đấu thầu, giải ngân dồn cuối năm, các khoản thu - chi chưa thực hiện đúng qua NSNN, các dự án được hưởng cơ chế đặc thù.
Thứ ba, kiểm toán quy trình quản trị và tuân thủ, không chỉ kiểm toán con số. Trong bối cảnh thay đổi mô hình chính quyền, cần chỉ rõ những bất cập về quy trình, phân cấp, phối hợp, từ đó kiến nghị sửa cơ chế, thay vì chỉ dừng ở xử lý tài chính.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ toàn diện, sâu rộng hơn nữa. Sử dụng phân tích dữ liệu, AI để phát hiện bất thường, khoanh vùng rủi ro, qua đó rút ngắn thời gian kiểm toán tại chỗ, nâng cao chất lượng và độ chính xác của kết luận.
Thứ năm, nâng cao chất lượng kiến nghị kiểm toán và theo dõi thực hiện. Kiến nghị phải rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, đồng thời phù hợp với năng lực tổ chức thực hiện trong mô hình mới.
Để chủ trương rút ngắn thời gian kiểm toán và quyết toán đi vào thực chất, cần đồng thời tái cấu trúc quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao năng lực con người và ứng dụng công nghệ. Chỉ khi cả hệ thống vận hành đồng bộ, mục tiêu “nhanh hơn nhưng vẫn đúng, vẫn minh bạch” mới có thể đạt được.
Khi các cơ quan nhà nước siết chặt kỷ luật và tăng tốc quy trình, người dân và doanh nghiệp (DN) sẽ được hưởng lợi thế nào từ việc quyết toán ngân sách sớm, thưa ông?
Việc quyết toán ngân sách được thực hiện sớm hơn không chỉ là thay đổi về kỹ thuật tài chính, mà tạo ra những chuyển biến rất cụ thể mà người dân và DN có thể cảm nhận trực tiếp:
Thứ nhất, việc quyết toán sớm giúp công khai sớm số liệu thu - chi, hạn chế tình trạng “để sau mới rõ”, qua đó người dân có thể giám sát tốt hơn việc sử dụng ngân sách; DN yên tâm hơn về môi trường tài chính - ngân sách địa phương.
Thứ hai, giải ngân đầu tư công và thanh toán cho DN thông suốt hơn; tình trạng chậm thanh toán khối lượng hoàn thành, kéo dài công nợ xây dựng cơ bản giảm rõ rệt.
Thứ ba, giảm điều chỉnh dự toán bị động, tăng tính ổn định chính sách. Dữ liệu quyết toán “tươi” giúp địa phương lập dự toán sát thực tế hơn, tạo môi trường dự báo ổn định cho DN trong kế hoạch đầu tư, sản xuất - kinh doanh.
Thứ tư, hạn chế lãng phí, thất thoát ở cấp cơ sở, giảm tình trạng chi dồn cuối năm, hợp thức hóa hồ sơ; từ đó, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn cho các dịch vụ công thiết yếu.
Thứ năm, kỷ luật tài chính được siết chặt giúp ngân sách dành cho an sinh xã hội, giáo dục, y tế, hạ tầng thiết yếu được phân bổ và thực hiện đúng tiến độ, đúng mục tiêu; người dân thụ hưởng dịch vụ công ổn định và tốt hơn.
Như vậy, quyết toán sớm không chỉ “gọn sổ sách” mà trực tiếp chuyển hóa thành minh bạch hơn, thanh toán nhanh hơn, chính sách ổn định hơn và dịch vụ công tốt hơn.
Nhìn ở tầm dài hạn, ông kỳ vọng Luật NSNN năm 2025 sẽ tạo ra một cú hích như thế nào để thay đổi tư duy quản trị tài chính công tại Việt Nam trong tương lai?
Nhìn ở tầm dài hạn, tôi kỳ vọng việc rút ngắn thời gian quyết toán theo Luật NSNN năm 2025 sẽ đặt nền móng cho 3 chuyển biến căn bản trong quản trị ngân sách và kỷ luật tài chính công.
Thứ nhất, chuyển dứt khoát từ tư duy “hậu kiểm chậm” sang quản trị ngân sách theo dữ liệu và chu kỳ ngắn. Quyết toán sớm buộc các chủ thể sử dụng ngân sách làm đúng ngay từ đầu, quản lý ngân sách như một dòng chảy liên tục, thay vì chờ đến cuối kỳ mới tổng hợp, hợp thức hóa. Đây là bước chuyển từ quản trị “sau sự kiện” sang quản trị “trong quá trình”, phù hợp với xu thế quản lý tài chính công hiện đại.
Thứ hai, siết chặt kỷ luật tài chính thông qua trách nhiệm giải trình kịp thời. Chu kỳ quyết toán càng ngắn, sai sót và lãng phí càng khó che giấu; trách nhiệm người đứng đầu được xác định sớm, rõ địa chỉ. Điều này tạo ra văn hóa trách nhiệm trong toàn hệ thống quản lý ngân sách, từ Trung ương đến địa phương.
Thứ ba, nâng cao thực chất vai trò giám sát của Quốc hội và hiệu quả kiểm toán. Quyết toán kịp thời giúp giám sát và kiến nghị xử lý dựa trên dữ liệu còn “tươi”, tác động trực tiếp đến điều hành và lập dự toán các năm sau. Quốc hội có thể thực hiện quyền giám sát cao nhất một cách thực chất hơn, không chỉ hình thức.
Rút ngắn thời gian quyết toán không chỉ là cải cách về mặt kỹ thuật, mà là một trong những động lực quan trọng để hiện đại hóa toàn bộ hệ thống quản trị tài chính công, góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền, minh bạch và hiệu quả.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
